Phát triển không gian công cộng – cú huých cho sự phát triển của TPHCM

473

Phát triển không gian công cộng – cú huých cho sự phát triển của TPHCM trong tương lai

Nền kinh tế tạm thời hạ nhiệt có lẽ là một thời điểm tốt để chúng ta nhìn lại quá trình phát triển đô thị đã qua, cũng như dự báo những vấn đề có khả năng nảy sinh trong tương lai. Trong giới hạn của bài viết dưới đây, chúng tôi chỉ xin đề cập tới những vấn đề của không gian công cộng TPHCM, công năng quan trọng bậc nhất trong việc hình thành bộ mặt-bản sắc-thương hiệu của đô thị.

Không gian công cộng – vai trò quan trọng trong thế kỷ 21

Đô thị hiện đại thoạt đầu là một sản phẩm của thời kỳ đại công nghiệp: đô thị tạo điều kiện tốt cho xã hội con người phát triển, nhưng đồng thời cuộc sống đô thị cũng tạo ra vô số áp lực lên con người. Nếu ta xem đô thị như một khối vật liệu co dãn, trong đó áp lực cuộc sống hình thành liên tục từ giữa các tòa cao ốc văn phòng, trong các công trình dịch vụ đô thị, trên các đường phố và ngay trong các khu ở của đô thị, vậy thì các không gian công cộng đô thị – bao gồm các công viên cây xanh, không gian dọc hai bên sông rạch, quảng trường, không gian đi bộ hai bên đường phố … – là chiếc lò xo, là các khe rỗng, là phần cao su đàn hồi giúp giải tỏa bớt áp lực bên trong của khối vật liệu sôi động đó. Không gian công cộng là nơi cư dân đô thị lấy lại cân bằng sau giờ làm việc, giải tỏa áp lực và sản sinh ra năng lượng sáng tạo trong cuộc sống. Đó là vai trò cơ bản ban đầu của không gian công cộng đô thị.

TPHCM bước sang Thế kỷ 21 – thời đại của thông tin – là thế kỷ của bản sắc (identity). Giá trị của sản phẩm hàng hóa ngày nay không căn cứ trên giá thành vật liệu làm nên, mà tùy thuộc vào mức độ đầu tư chất xám và cấp độ đặc sắc, cá tính của sản phẩm đó. Giống như cạnh tranh kinh tế, các đô thị cạnh tranh nhau nhờ nét hấp dẫn và bản sắc của mình. Trong cuộc cạnh tranh toàn cầu này, đô thị nào càng năng động, hấp dẫn và sáng tạo, đô thị đó sẽ càng lôi cuốn nhiều nhân lực trình độ cao tới trao đổi mua bán thứ thông tin-hàng hóa, nhờ thế có nhiều cơ hội hơn trong việc giành lấy thị phần làm ăn của thế giới.

Trên suốt đoạn cảng biển dài hơn 3 km của thành phố Yokohama, diễn ra hàng chục, hàng trăm hoạt động, sự kiện đô thị khác nhau. Ta cũng có thể cảm nhận sự sôi động, hấp dẫn tương tự như vậy tại khu Clark Quay – không gian công cộng dọc bờ sông của Singapore, hay tại các phố đi bộ của Hong Kong. Các hoạt động, sự kiện này kích thích óc sáng tạo của hàng trăm, hàng ngàn con người đô thị trong tầm ảnh hưởng của không gian công cộng đó, giúp họ sản xuất ra những sản phẩm-hàng hóa quan trọng của nền kinh tế đô thị. Trong Thời đại thông tin và toàn cầu hóa, không gian công cộng đô thị trở nên quan trọng hơn rất nhiều so với Thời đại công nghiệp: chính tại đây hình thành và phát triển nên bản sắc, cá tính (identity) của đô thị, đồng thời tạo ra chất keo gắn kết con người với đô thị.

image

Hình 1: Clark Quay, nơi diễn ra các hoạt động đô thị đặc sắc và hấp dẫn của thành phố Singapore

Đáng tiếc rằng, trong thời gian phát triển xây dựng nhộn nhịp vừa qua, TPHCM chưa có đầu tư đáng kể nào cho không gian công cộng đô thị, ngoại trừ việc chỉnh trang một số không gian công viên mảng xanh đã có sẵn và đưa thêm vào các không gian này một số hoạt động đô thị mới mẻ.

Nhằm chuẩn bị cho thời kỳ biến chuyển mới của kinh tế đô thị, hiện thời TPHCM rất cần một Hiệu ứng đô thị kiểu Bilbao của riêng mình.

Hiệu ứng Bilbao: cuối thập kỷ 1990, nhằm tạo động lực kinh tế cho thành phố, chính quyền thành phố Bilbao, Tây Ban Nha quyết định xây dựng một bảo tàng mới – Bảo tàng Guggenheim, do kiến trúc sư Frank O. Gehry thiết kế. Công trình được hoàn thành xây dựng và đưa vào sử dụng năm 1997. Kể từ khi mở cửa, bảo tàng đã đón nhận hơn 5 triệu lượt khách, thu được lợi nhuận khổng lồ cho thành phố nhờ các hoạt động du lịch, văn hóa, thương mại dịch vụ và khoảng 100 triệu USD tiền thuế, giúp chấn hưng nền kinh tế thành phố. Hiệu ứng Bilbao là cụm từ ngày nay thường dùng để mô tả những dự án xây dựng công trình công cộng đem lại sự khởi sắc cho bộ mặt đô thị, nhờ thế chấn hưng nền kinh tế.

Vậy nên tìm Hiệu ứng Bilbao cho TPHCM ở đâu?

Muốn cạnh tranh được với các đô thị lớn trong khu vực để giành được những khoản đầu tư quy mô lớn và có chiều sâu, TPHCM phải tìm cách đánh bóng và khuếch trương bản sắc của mình. Như đã phân tích ở trên, bản sắc đô thị phần nhiều nằm trong không gian công cộng của Thành phố chúng ta, một thành phố độc đáo vừa mang nét Đông Á ở sự thiếu trật tự và hỗn loạn bề ngoài, vừa mang nét phương Tây nhờ bản quy hoạch của người Pháp đầu thế kỷ 20.

Không gian công cộng của TPHCM – tiềm năng đô thị chưa được khai thác

Theo bản quy hoạch Sài Gòn của Coffyn lập vào đầu thế kỷ 20, trong thời kỳ công nghiệp hóa, không gian công cộng của thành phố Sài Gòn gồm ba loại hình chủ yếu: các công viên cây xanh, các quảng trường và không gian đường phố, được phân chia theo tầng bậc trong đô thị. Các không gian xanh dọc sông rạch truyền thống của thành phố – nắm vai trò không gian công cộng cho cư dân người Việt và Hoa tại khu Chợ Lớn và vùng lân cận – không nằm trong hệ thống tầng bậc đó.

Qua hơn 100 năm sử dụng, các không gian công cộng của quy hoạch thời Pháp đã dần dần bị cư dân người Việt biến đổi và sử dụng lại theo lối sống, bản sắc của mình. Khác với đô thị Châu Âu, ở các đô thị Đông Á và tại TPHCM mọi cư dân đều tham gia trong việc hình thành nên không gian cảnh quan đô thị: xây dựng cơi nới, lấn chiếm, phát triển buôn bán nhỏ dọc hai bên đường, kiến trúc lộn xộn không theo phong cách rõ ràng v.v.

Chúng tôi xin nêu ra dưới đây một số đề xuất nhằm góp phần định hướng phát triển không gian công cộng cho TPHCM trong thời gian tới.

1. Tiềm năng phát triển của không gian cảng dọc sông Sài Gòn:

Sông rạch gắn liền với Sài Gòn-TPHCM từ buổi sơ khai. Vào buổi bình minh của đô thị Sài Gòn, cảnh quan có lẽ rất gần với một Venice phương Đông. Sau khi người Pháp quy hoạch lại thành phố và lấp đi nhiều kênh rạch để làm các đại lộ cây xanh, yếu tố sông rạch mất dần trong cảnh quan đô thị.

Nhà văn Sơn Nam từng nói : “TPHCM là cảng biển quan trọng nhất cả nước”.

Vào thời điểm hiện tại, việc cải tạo chỉnh trang các kênh rạch của Thành phố như kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè, kênh Tân Hóa-Lò Gốm v.v., nhất là quyết tâm di dời các khu cảng như Cảng Sài Gòn, khu Ba Son, Tân Cảng đã mở đường cho việc hình thành các không gian công cộng quy mô lớn dọc sông rạch, có thể biến đổi bộ mặt Thành phố, hình thành bản sắc đô thị hoặc nâng cao thêm những nét cá tính đã sẵn có. Việc nối kết lịch sử và truyền thống của Thành phố có lẽ nằm trong các không gian cảng đã biến đổi công năng này, đúng như nhà văn Sơn Nam đã nói. Không gian công cộng cần luôn gắn chặt với sông Sài Gòn và lịch sử phát triển của TPHCM.

Ở các đô thị cảng có lịch sử phát triển lâu đời như tại Châu Âu hay Nhật Bản, việc chuyển đổi công năng các khu đất bến cảng cũ luôn được cân nhắc rất kỹ, người ta thường giữ lại một số thành phần kiến trúc có nét đặc sắc gắn liền với khu cảng như cầu tàu, nhà kho, bến tàu khách, các ụ tàu … để chuyển đổi sang chức năng thương mại dịch vụ, triển lãm, sinh hoạt văn hóa … Các công trình kiến trúc hiện đại cao tầng bố trí trong khu cảng cũ xen cài với các kiến trúc cũ đã chuyển đổi chức năng, tạo nên sự gắn kết hài hòa giữa nét hiện đại và cũ kỹ, giữa lịch sử và hiện tại, gắn kết các thế hệ cư dân đô thị với thành phố, tạo nên nét đặc sắc và thu hút khách du lịch tới tìm hiểu về lịch sử thành phố.

imageHình 2 : Bến tàu khách của cảng Yokohama cũ, ngày nay được chuyển thành khu mua sắm và dịch vụ cho du khách.

imageHình 3: khu nhà kho cũ tại bến cảng của Hakodate, cảng biển quan trọng nhất của Hokkaido, nay được chuyển thành khu mua sắm cho khách du lịch.

Ta hãy tưởng tượng một kịch bản sau mười năm nữa, khi việc di dời khu Ba Son, Cảng Sài Gòn và Tân Cảng hoàn tất, các dự án xây dựng cao ốc chọc trời mọc lên như nấm tại các khu đất này, và chỉ còn lại Bến Nhà Rồng trơ trọi lại những biển cao ốc đấy. Lịch sử thành phố sẽ biến mất, cùng với nó là các di sản văn hóa và cái hồn đô thị đã hình thành và tồn tại suốt ba trăm năm nay. Trước khi quá muộn, Thành phố hãy giữ lại một số khung nhà kho, xưởng tàu cũ đặc sắc nhất của Cảng Sài Gòn và Ba Son, nhằm chuyển đổi công năng thành thương mại dịch vụ, đồng thời gìn giữ lịch sử và truyền thống của Thành phố – đầu mối trao đổi thông tin và giao lưu với thế giới quan trọng nhất của cả nước.

2. Kiến trúc và không gian cảnh quan gắn kết chặt chẽ hơn với tự nhiên

Mô hình không gian xanh đô thị theo tầng bậc của thời kỳ công nghiệp hóa ngày nay đang bị thế giới xem xét lại. Các quy hoạch gia Singapore đang nhận ra những khiếm khuyết trong quy hoạch “thành phố vườn” của họ, một mô hình theo kiểu Anh, theo đó khái niệm “vườn” không phải là một thành tố tự nhiên trọn vẹn trong đô thị, mà là một thứ tự nhiên được đóng gói, nhân tạo và bị con người thống trị : mảng xanh đô thị “vườn” chỉ là một bánh răng, một chi tiết máy trong tổng thể bộ máy-đô thị. Bởi thế, cư dân rất khó hình thành mối liên hệ chặt chẽ truyền thống với những khu vườn như vậy, nhất là khi thành phần cư dân chủ yếu của Singapore là nhập cư. Các chuyên gia quy hoạch trên thế giới cũng trân trọng xem xét lại một truyền thống Châu Á, khi trong gia đình có đứa trẻ mới chào đời, người cha liền trồng một cây xanh trong vườn hoặc ngoài cổng nhà để làm kỷ niệm. Từ đó, cư dân có một gắn bó mật thiết, tâm linh với thiên nhiên và thiên nhiên luôn gần gũi hài hòa với con người và đô thị. Kết hợp hai quan điểm này, ta có mô hình cho không gian xanh đô thị trong thế kỷ 21 như sau: Ở cấp độ đô thị và khu đô thị, mảng xanh, công viên được quy hoạch theo tầng bậc và cấp độ như các đô thị Châu Âu. Ở cấp độ khu ở, cần có giải pháp thiết kế, xử lý không gian và cơ chế quản lý thực hiện sao cho cư dân khu ở có sự tương tác nhiều hơn với mảng xanh, giúp họ gắn kết chặt chẽ về mặt sinh hoạt và tinh thần với mảng xanh khu ở.

Tại các nền văn hóa Đông Á, yếu tố thiên nhiên, thể hiện qua lý thuyết phong thủy, có trong hầu hết các mặt của đời sống đô thị, gồm cả kiến trúc công trình và tổ chức cảnh quan không gian đô thị. Tại các thành phố Hàn Quốc, Trung Quốc hay Nhật Bản, tên gọi các công trình, nhất là các cao ốc, thường gắn liền với ngọn núi, con sông hoặc hồ nước nằm trong tầm nhìn từ công trình đó. Ngược lại, tầm nhìn và hình khối kiến trúc luôn được cố gắng thiết kế sao cho đưa được Phong thủy, tức yếu tố tự nhiên trong kiến trúc, ảnh hưởng đến mọi giai đoạn tổ chức mặt bằng công trình, phòng ốc, trang thiết bị v.v. Tại TPHCM, sự kết hợp giữa công trình và yếu tố tự nhiên thường chưa rõ nét lắm, các sông rạch, hồ đầm tự nhiên không mấy khi được lưu ý đúng mức khi thiết kế quy hoạch khu dân cư hay các cao ốc chọc trời, đôi khi còn bị xem là một cản trở cần gạt bỏ đối với dự án xây dựng. Các cao ốc và công trình xây dựng quan trọng, cũng như các quảng trường của Thành phố cần có được sự hài hòa với thiên nhiên như truyền thống Đông Á xưa kia.

3. Không gian đường phố cần được tổ chức lại cho phù hợp trình độ phát triển của kinh tế-xã hội đô thị

Hiện nay, việc giao thông cá nhân (xe máy) phát triển quá mức đã khiến nhiều chức năng công cộng và hoạt động đô thị tràn ra hai bên lề đường, thậm chí ra ngay giữa lòng đường, phát triển tràn lan theo dạng tuyến-dải và rất khó quản lý kiểm soát. Với quyết tâm phát triển hệ thống giao thông trung chuyển công cộng, kết hợp nhiều phương tiện xe buýt, tàu điện ngầm, tàu điện mặt đất v.v., mạng lưới giao thông của Thành phố trong thời gian tới sẽ có nhiều chuyển biến quan trọng, ảnh hưởng tới việc tổ chức không gian công cộng trên các tuyến trục đường đô thị. Quyết tâm này thể hiện rất rõ trong quy hoạch giao thông công cộng TPHCM 2007 và nội dung cuộc thi Thiết kế đô thị khu trung tâm hiện hữu TPHCM tháng 11/2007 vừa qua.

Khi phát triển hệ thống giao thông trung chuyển khối lượng lớn (như tàu điện ngầm, xe điện mặt đất v.v.), việc xây dựng các công trình mang chức năng thương mại dịch vụ dọc theo các tuyến trục đường sẽ giảm dần. Chức năng công cộng đô thị và thương mại dịch vụ không thể tiếp tục trải dài dọc trục đường, tấp nập hai bên lề đường, tức không còn phát triển theo dạng tuyến, mà sẽ phát triển theo dạng nút-điểm, tập trung quanh các nhà ga và bến xe trung chuyển. Ngoại trừ một số tuyến phố thương mại đặc thù và độc đáo vẫn được duy trì và phát triển, các chức năng công cộng quan trọng của trung tâm đô thị và trung tâm quận huyện cần tổ chức theo dạng nút-điểm, nhằm thuận tiện sử dụng cũng như đảm bảo hiệu quả kinh tế. Quan điểm này sẽ khiến không gian cảnh quan hai bên các trục đường biến đổi sâu sắc.

imageHình 4: Phương án tổ chức không gian trục đường Tôn Đức Thắng của Công ty Nikken Sekkei.

Tuy nhiên, cho đến nay hầu hết các quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị chưa xác định rõ tính chất quy hoạch các tuyến đường đô thị cho phù hợp quan điểm quy hoạch hiện đại. Trong khi đó, tính chất hoạt động của trục đường (đường trục chính đô thị, đường chính khu vực, hay đường vào nhóm nhà ở v.v.) ảnh hưởng quyết định tới việc tổ chức hoạt động công cộng đô thị hai bên đường, từ đó có thiết kế mặt cắt đường hợp lý. TPHCM cần thiết xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả giữa Sở Giao thông-Công chính và Sở Quy hoạch-Kiến trúc trong quá trình xây dựng quy hoạch hệ thống giao thông đô thị nhằm giải quyết càng sớm càng tốt vấn đề bất cập này.

Để thu hút nhân lực trình độ cao, thu hút nguồn vốn đầu tư và giúp đô thị TPHCM nắm bắt được cơ hội vươn lên trở thành một đô thị tầm cỡ quốc tế, việc xây dựng bản sắc, nét cá tính và sức hấp dẫn của đô thị đóng vai trò quyết định. Trong công cuộc toàn cầu hóa đó, giải pháp đầu tư phát triển không gian công cộng đô thị một cách khoa học và hợp lý sẽ là chìa khóa, là Hiệu ứng Bilbao cần thiết giúp Thành phố đạt được mục tiêu trên.

Lý Thế Dân
Sở Quy hoạch-Kiến trúc, 5/2008

Nguồn tham khảo:
– Hội thảo Asian Alterity – Case Studies of Asian Cities, Singapore, 7/2007.
– Mỹ học đô thị Tokyo – Hỗn loạn và Trật tự, Yoshinobu Ashihara, 199

5 BÌNH LUẬN

  1. Một vài ý kiến góp ý bài viết “Phát triển không gian công cộng – cú huých cho sự phát triển thành phố” của Th.KTS Lý Thế Dân.
    MỘT SỐ TRAO ĐỔI VỀ QUAN ĐIỂM và KHÁI NIỆM (góc độ triết học):
    1. Có cảm giác tác giả đánh đồng “không gian công cộng” với “cảnh quan trung tâm thành phố vì qua nội dung bài viết tác giả tập trung chủ yếu vào vấn đề “cảnh quan khu trung tâm” nhiều hơn.
    2. “Không gian công cộng” quyết định bởi:
    a. Nguồn gốc hình thành đô thị: thuộc phạm trù “văn hoá”, thể hiện tính chất, qui mô từ khi quy hoạch ban đầu và mức độ can thiệp của chính quyền vào không gian vật thể, và hệ luỵ (sự phát triển theo thời gian) trong quá trình tham gia của cư dân đô thị, (cụ thể là sự khác nhau giữa Tây và Đông như trong bài có đề cập)
    b. Quá trình hình thành và phát triển: thuộc phạm trù “văn minh”, thể hiện yếu tố vật chất.
    i. Về công năng không gian công cộng:
    1. Quảng trường là nơi tập trung đông người trong 1 số dịp quan trọng.
    2. Công viên cây xanh là lá phổi của đô thị (được xác định vị trí tương đối trong quy hoạch đô thị).
    3. Không gian đi bộ dọc phố (theo tác giả), là lối đi tối thiểu để khách bộ hành lưu thông và là khoảng đệm giữa công trình và mặt đường giao thông.

    ii. Về phương thức di chuyển trong đô thị (công cộng hay cá nhân), phương thức giao tiếp,…

    3. Cần phân biệt hai khái niệm “Không gian công cộng” và “Công trình công cộng” trong quan hệ đối với đô thị (không xét không gian công cộng ở qui mô nhỏ trong khu ở hoặc công viên cây xanh – phục vụ mục tiêu cân bằng môi trường).
    i. Sự thay đổi của “Không gian công cộng” là hệ quả tất yếu của văn minh, thể hiện ở việc đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của phát triển kinh tế, gồm:
    1. Ở góc độ lưu thông con người và hàng hoá.
    2. Ở góc độ quản lý đô thị, kể cả kiến trúc (từ tự phát nhỏ lẻ theo tuyến thành tập trung, qui mô lớn). Theo nghĩa này thì quy chuẩn xây đã có đề cập đến yêu cầu bắt buộc về thiết kế đô thị trong quy hoạch chi tiết xây dựng.
    ii. “Công trình công cộng” có 2 vai trò:
    1. Văn minh đô thị: đáp ứng công năng cụ thể theo yêu cầu phát triển của đô thị, đồng thời thể hiện bộ mặt đô thị trong thơì đại mới (tiêu biểu có nhà hát Sydney, tháp Effend,…).

    2. Văn hoá đô thị: gợi nhớ, lưu giữ các giá trị tuyền thống của đô thị hay khu vực thường cải tạo công trình cũ hoặc xây dựng các kiến trúc tượng đài, nhà lưu niệm,… (tác giả muốn sử dụng khái niệm này trong bài viết của mình???).

    4. Việc tham gia xây dựng không gian công cộng có sự tham gia của mọi cư dân là có lý do về văn hoá (nông nghiệp), nguồn gốc cư dân (từ nông thôn) và sự hình thành đô thị. Do đó, cần lưu ý để có ý kiến về quản lý nhà nước cấp trung ương (xây dựng luật) và cấp địa phương (triển khai có lộ trình, một ví dụ trong vấn đề nón bảo hiểm và hiện là sử dụng vỉa hè, trong thời gian tới là chuyển hoá xe 3 bánh,v.v…).
    5. Về “hàng hoá” cần phân biệt 2 khái niệm:
    i. Hàng hoá “vật chất”: được định giá dựa trên chi phí đầu vào và chi phí chuyên chở, ví dụ 1 kg gạo hoặc 1 chiếc xe máy sẽ được bán chạy nếu cùng chất lượng và rẻ hơn sản phẩm khác cùng loại. Loại hàng hoá này sẽ có giá trị vượt trội nhờ chất lượng ổn định trong một thời gian, còn gọi là “thương hiệu”.
    ii. Hàng hoá “tinh thần”: một sản phẩm vô giá trị có thể bán giá rất cao,ví dụ nước biển ở mũi Hảo Vọng (nguồn http://www.sqtravelvn.com/vn/home.php?cat_id=5&id=339).

  2. MỘT SỐ TRAO ĐỔI VỀ NỘI DUNG:
    a. Nội dung đề xuất:
    i. “…Nhằm chuẩn bị cho thời kỳ biến chuyển mới của kinh tế đô thị, hiện thời TPHCM rất cần một Hiệu ứng đô thị kiểu Bilbao của riêng mình.” -> cần lưu ý 2 điểm:
    1. Xét định hướng đầu tư công thời điểm này liệu có phù hợp?.
    2. Là công trình công cộng, theo nguyên tắc xây dựng trên 1 giá trị nhất định về văn hoá, lịch sử,… bằng ngôn ngữ kiến trúc đặc sắc, vậy đây không phải là “không gian công cộng”.

    ii. “1. Tiềm năng phát triển của không gian cảng dọc sông Sài Gòn:” -> Đương nhiên cảng hành khách sẽ thế chổ cảng hàng hoá,
    iii. 2. Kiến trúc và không gian cảnh quan gắn kết chặt chẽ hơn với tự nhiên”: -> không thực tế, chỉ áp dụng với các “khu đô thị mới” trong định hướng phát triển đa trung tâm của thành phố là chấp nhận được.
    iv. “3. Không gian đường phố cần được tổ chức lại cho phù hợp trình độ phát triển của kinh tế-xã hội đô thị” -> đây là hệ quả của công tác quy hoạch, tuy nhiên đối với khu vực nội thành cần có cơ chế quản lý đủ mạnh (xây dựng luật đô thị) như Nhật Bản để chỉnh trang bộ mặt các tuyến đường.
    b. Phần kết luận hơi khiên cưỡng khi dựa vào một giả định không có cơ sở khoa học về kinh tế (các nhà đầu tư nước ngoài băn khoăn nhất về hạ tầng kỹ thuật và thủ tục đầu tư, kế đến là lực lượng lao động, nguyên vật liệu và hạ tầng dịch vụ), đồng thời đưa ra một “…giải pháp đầu tư phát triển không gian công cộng đô thị một cách khoa học và hợp lý” về cơ bản lại là hệ quả của chủ trương chính sách khác về định hướng quy hoạch chung và về việc xây dựng luật đô thị và qui chế quản lý.
    Thanks.

  3. Hôm nay có thời gian, tôi xin trả lời rõ thêm một số ý của anh dlha:

    1. Về Hiệu ứng Bilbao: việc sử dụng khái niệm này ở đây đề cập tới một định hướng đầu tư cho công cộng nhằm tạo động lực phát triển kinh tế đô thị. Với khái niệm này thì phát triển không gian công cộng của TPHCM hiện nay có thể xem như một hiệu ứng Bilbao cần thiết.
    Những vấn đề anh dlha phản biện ở đây chưa rõ, lý do như sau:
    – Anh cố gắng phân định rạch ròi các khái niệm
    liên quan trong bài viết. Tuy nhiên, bài viết đang đặt những khái niệm này trong một tổng thể quan hệ chặt chẽ với nhau, với mục đích đi tìm một định hướng hơn là đi tìm định nghĩa. Do đó có cảm giác phản biện của anh mang nặng tính lý thuyết và việc phân tách quá rạch ròi các khái niệm trở nên thiếu thực tế.
    – “Sự thay đổi tất yếu của KGCC là hệ quả của văn minh”: mệnh đề chỉ có cần nhưng chưa có đủ. Chính vì vậy chúng tôi mới đề nghị “một tác động”, một “cú huých”, tức là một thay đổi trong định hướng.

    2. Về đầu tư công: thực tế TPHCM trong thời gian phát triển vừa qua gần như không có đầu tư công, nhất là những đầu tư có chiều sâu, mang tính tổng hợp văn hóa lịch sử. Nếu so sánh Singapore, ta thấy Capitaland của chính quyền đóng góp khá nhiều. Về mặt định hướng, phải chăng đây là thời điểm để có những đổi mới ở TPHCM? Do đó, nếu anh dlha nêu ý kiến đầu tư công là lỗi thời thì chúng tôi chưa thể đồng ý ngay được!!!

    3. Việc mọi công dân tham gia hình thành bộ mặt đô thị là một thực tế, là bản sắc đô thị của ta. Vấn đề là nhà quản lý nhận định và định hướng ra sao về chuyện này.

    4. Trong phạm vi một bài viết ngắn, chúng tôi muốn đề xuất một giải pháp thông thường phổ biến trên thế giới mỗi khi cần “hồi sinh” cho đô thị (như trường hợp TP New York năm 2004). Do đó, chúng tôi chỉ đưa đề xuất mà chưa thể nêu dẫn chứng dài dòng. Một lần nữa, phản biện của anh dlha trong trường hợp này lại hơi mang tính lý thuyết.

    Chúng tôi rất cám ơn anh vì những ý kiến thẳng thắn. Mong sớm có phản hồi từ anh.

    Danngoc