Đô thị hóa – thách thức và cơ hội

945

image

Vào năm 1900, toàn thế giới chỉ có 10% dân số sống ở đô thị. Đến năm 1950 con số này là gần 30%. Vào 2007, theo thống kê của Liên hợp quốc, số người sống ở đô thị đã vượt ở nông thôn. Xu thế này sẽ còn gia trong những năm tới, đặc biệt là tại châu Phi và châu Á, hai khu vực vào năm 2030 sẽ tập trung đa số các đô thị lớn của thế giới. Lúc đó, số người sống ở thành thị sẽ lên tới 5 tỉ người, chiếm 60% dân số toàn cầu. (Đến cuối năm 2007 có chừng 3,3 tỉ người sống ở đô thị).

Hiện nay, những khu vực phát triển nhất là những nơi có tỉ lệ đô thị hoá cao nhất : Châu Âu, Bắc Mỹ chiếm vị trí hàng đầu với ¾ dân số sống ở thành thị. Có một điều đặc biệt là châu Mỹ la tinh dù chưa phát triển nhưng lại có mật độ đô thị hoá rất cao, với 78% dân số sống ở đô thị.

Với tốc độ đô thị hoá nhanh chóng, quy mô của các đô thị cũng gia tăng một cách ấn tượng. Vào năm 1975 chỉ có 3 thành phố với dân số hơn 10 triệu người là Tokyo, New York và Mexico.Tới năm 2005 con số này là 20, ba thành phố đứng đầu vẫn giữ nguyên : Tokyo và vùng phụ cân với 35,2 triệu dân, Mexico với 19,4 triệu và New york 18,7 triệu. Phần lớn các thành phố có dân số hơn 10 triệu người nằm ở các nước đang phát triển : Trung Quốc có hai trục đô thị lớn là Thượng Hải và Bắc Kinh, Ấn độ với ba thành phố Bombay, New Delhi và Calcutta.

Hiện tượng đô thị hoá hiện nay chủ yếu diễn ra tại các nước đang phát triển nằm ở Nam bán cầu, với làn sóng người từ các vùng nông thôn đổ về thành phố, dẫn tới việc hình thành các trung tâm đô thị khổng lồ mà người ta vẫn gọi mà các megacity, trong khi ở các nước phát triển, tỉ lệ dân cư sống ở đô thị dường như đã tới mức tới hạn, đô thị hoá ở các nước này diễn ra theo một xu hướng khác.

1.Đô thị hoá « khuếch tán » ở các nước phát triển.

Trong khi ở các nước phát triển phía nam bán cầu, dân nhập cư nghèo từ nông thôn vào thành thị thì dân thành thị ở các nước giàu lại có xu hướng sống ở ngoại vi, hoặc ít ra thì mua nhà nghỉ ở nông thôn. Hiện tượng này giải thích bởi ham muốn được sống tiếp xúc với thiên nhiên, một ảo ảnh hiện diện từ châu Âu tới Nhật bản, Hoa kỳ, cho dù văn hoá, lối sống mỗi nơi không tương đồng.

Hện tượng gọi là « đô thị hoá khuếch tán » (urbanization diffuse) này tỏ ra là mô hình còn tiêu thụ và ngốnn nhiều nguồn lực tự nhiên hơn cả ở các đô thị chật ních người. đông đúc.

Tháng 10 năm 2000, tại một hội thảo quốc tế về di trú tại Philadelphia tháng 10 năm 2000 nhà địa lý học Brian J.L.Bery tuyên bố trong báo cáo của ông về xu thế đô thị hoá ở Hoa Kỳ, và đưa ra khái niệm mới « e-urbanization », theo đó, cuộc cách mạng trong công nghệ thông tin và sự phát triển của internet cho phép người ta sống gần hơn với thiên nhiên, điều khiển tất cả mọi thứ từ nhà riêng, không cần tới công sở làm việc hay đi mua sắm tại các siêu thị trong thành phố đông đúc.

Theo Bery, trong thời kì đầu của quá trình công nghiệp hoá, với sự bùng nổ công nghiệp nặng đòi hỏi sự tích tụ dân cư vào các đô thị lớn, nhưng quá trình phổ biến xe hơi cá nhân bắt đầu làm tan rã các trung tâm đô thị và phân bố lại dân cư, điều này phát triển các hình thức tương tác cá nhân hơn, và điều này cũng thúc đẩy phát triển những mối liên kết, tương tác từ xa mà việc rút ngắn không gian liên quan tới việc sử dụng phổ biến xe hơi mang lại.

Trong những thành phố truyền thống, chật ních người trước khi phổ biến xe hơi. Hàng trăm người dân đi bộ tới đó để mua đậu hũ ở góc đường. Bây giờ, ứng dụng « đô thị khuếc tán », hàng trăm con người đó sẽ sống riêng rẽ trong nhà riêng của họ, cách biệt bở đầu mỗi con đừong bé nhó hay chìm sâu trong thiên nhiên, và mỗi người đều đặt hàng đậu hũ của họ qua internet, và giờ đây cần hàng trăm chuyến giao hàng bằng xe cộ để chuyển tới đầu mỗi góc đường, cái nào có lợi môi trường hơn, thành phố đông đúc hay đô thị khuếch tán ?

Cũng như hiện tượng liên quan trực tiếp tới việc sử dụng xe hơi, chính tại Hoa Kì, nơi đã thể hiện sớm nhất, chính nhà quy hoạch hoa kì Melvin Webber vào năm 1964 lần đầu tiên đã nhấn mạnh : ông lý luận rằng khái niệm đô thi lâu nay, phân biệt địa giới hành chính giữa nông thôn và thành thi được giới hạn và phân biệt với nông thôn đã những chỗ cho cái mà ông gọi là « miền đô thị ». (Urban domain), tức là sự dàn trải không gian đô thị trên một lãnh thổ rộng lớn hơn trước, không bị bó buộc bởi địa giới hành chính truyền thống.

Hình thức đô thị hoá này không được nhầm lẫn với sự gia tăng nhanh chóng các thành phố khổng lồ mà chúng ta đang chứng kiến cùng lúc ở các nước nghèo, sau khi đã diễn ra cách đây gần 100 năm tại các nước công nghiệp. Trong đô thi « khuếch tán », dân cư về mặt xã hội học là dân thành thị không phải là nông dân, nhưng họ lại chuộng cư trú theo kiểu dân nông thôn. Chính vì thế họ trốn chạy thành phố để về nông thôn hoặc kiếm nhà nghỉ ở nông thôn để thi thoảng về ở. Trái lại, ở các nước nghèo, cũng như ngày xưa ở các nước ngày nay đã phát triển, người ta từ nông thôn kiếm tìm đô thị.

2. Nông thôn hoá các đô thị ở các nước đang phát triển.

Gia tăng dân số chủ yếu diễn ra tại đô thị thuộc thuộc các nước đang phát triển. Tuy nhiên dân cư đô thị ở các quốc gia này phải đối mặt với các vấn đề cấp bách như đói nghèo, thiếu nước sạch hay sự phát triển không kiểm soát được các khu ổ chuột. Chính quyền cố gắng để đáp ứng các nhu cầu hiện tại nhưng lại không chuẩn bị tốt cũng như thiếu kinh nghiệm và phương tiện cần thiết để đối phó trước những tác động của việc gia tăng với tốc độ như thế. Rất nhiều dân cư mới gia nhập lớp dân đô thị nghèo đói và sẽ góp phần gia tăng số lượng hàng tỉ người sống trong các khu nhà ổ chuột. Kinh nghiệm cho thấy rằng bất chấp hoàn cảnh khó khăn mà họ đối mặt như thế nào chăng nữa tại thành phố đô thị thì những người cư dân mới này cũng sẽ không ra đi

Như vậy câu hỏi đặt ra hiện nay là liệu đô thị hoá có là một lực cản cho quá trình phát triển ?

Một thực tế dễ nhận thấy là tại các nước đang phát triển, quá trình phát triển và mở rộng ồ ạt các đô thị gắn liền với hiện tượng gia tăng ô nhiễm môi trường hay gia tăng các khu dân cư ổ chuột. Điều này có vẻ như là mâu thuẫn giữa quá trình đô thị hoá và phát triển. Tuy nhiên một số nhà nghiên cứu khẳng định rằng các khu dân cư ổ chuột này có thể xem như là « phố trong thành phố » dần dần sẽ được cấu trúc lại với sự cởi mở và đa dạng hoá các hoạt động kinh tế.

Ví dụ cho thực tế là nghịch lý trong quá trình đô thị hoá tại các nước lục địa đen:Các thành phố được mở rộng cùng lúc với việc « nông thôn hoá » chính nó vì lý do chất lượng cuộc sống giảm ngay chính tại các đô thị đó, một bộ phân lớn dân cư đô thị phải chịu hưởng chất lượng cuộc sống không khác gì dân cư ở nông thông và đặc biệt họ làm các công việc liên quan đến nông nghiệp. Ngoài ra, đó là sự ngăn cách bất bình đẳng giữa khu vực nông thôn và đô thị, những khó khăn và bất cập trong việc tiếp cận nước sạch và điện của cư dân đô thị, cũng như sức ép chính trị của lớp thị dân mới này.

Những thành phố quá cỡ cũng xuất hiện ở châu Mỹ Latinh, châu Á là một thực tế đã và đang diễn ra, do các quốc gia đã để quá trình đô thị hoá diễn ra tự phát mà không có chiến lựơc quy hoạch phù hợp, dẫn đến các thành phố đã phình ra quá cỡ trong khi kết cấu hạ tầng yếu kém không thể đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu của cư dân đô thị. Những vấn đề mà các quốc gia này phải đối mặt là là dân số tập trung quá lớn vào một vài đô thị (megacity), áp lực về việc làm (thất nghiệp) và nghèo đói, vấn đề nhà ở, cơ sở hạ tầng và dịch vụ, giao thông, tội phạm, bạo lực và khủng bố, vấn đề quản lý đô thị…

Tuy vậy những khó khăn và bất cập này không thể đảo ngược được xu thế đô thị hoá hiện nay. Và thế giới vẫn không ngừng đô thị hoá trong thời gian tới.

Từ nay cho tới những tiếp theo, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, hơn một nữa dân số thế giới sống trong các thành phố. Trước năm 2030, thế giới sẽ có 5 tỉ người sống ở đô thị, tức khoảng 60% dân số toàn cầu. Ở châu Á và châu Phi, con số sẽ tăng gấp 2 chỉ trong vòng 1 thế hệ : từ 2000 đến 2030, số dân đô thị sẽ từ 1,4 lên 2,6 tỉ người ở châu Á, và từ 300 lên 740 triệu người ở châu Phi.

Trong quá khứ, các độ thị thường đối khó bằng cách cố gắng hạn chế việc di cư từ nông thôn vào thành thị. Các đô thị bỏ rơi người nghèo hoặc đơn giản là chối bỏ sự có mặt của họ, hàng triệu dân cư đô thi hiện nay đang phải sống không nước sạch, điện, không có cơ hội tiếp cận với giáo dục và y tế. Vấn đề này phải trả giá rất đắt đối với cuộc sống dân cư và tình trạng xung đột tại các đô thị (Ngay tại những nước phát triển như Pháp cách đây vài năm cũng đã xảy ra nhưng cuộc bạo loạn tại các đô thị mà nguyên nhân là sự bất bình đẳng giữa tầng lớp dân cư cũ và mới trong đô thị).

Người ta thường quy những khó khăn và thách thức tại các đô thị cho hiện tượng nhập cư. Điều này là một nhầm lẫn, bởi ba lý do. Thứ nhất, việc gia tăng dân số tại đô thị không chỉ do làn sóng người nhập cư mà còn do hiện tương gia tăng tự nhiên dân số. Thứ hai là không phải làn sóng di cư là nhân tố của đô thị hoá mà ngược lại chính các đô thị thu hút dòng người di chuyển tới những nơi mà họ có thể có chất lượng cuộc sống tốt nhất. Lý do thứ ba căn bản nhất là việc di cư nếu được quản lý tốt sẽ là nhân tố tích cực cho sự phát triển của đô thị cũng như nông thôn.

Không có quốc gia công nghiệp hoá nào phát triển mà không trải qua việc chuyển đổi mạnh mẽ về kinh tế và xã hội, gia tăng việc phân công lao động và xúc tiến mở cửa với thế giới. Phần lớn người nghèo ở đô thi sống nhờ các lĩnh vực kinh tế nhỏ lẻ không chính thức.Nhưng tầng lớp dân cư đô thị mới này cũng tạo ra những lợi ích đáng kể, các nhà kinh tế nhất trí rằng lao động không chính thức mang lại một sức sống cho đô thi, và nó tạo ra cho kinh tế của các nước đang phát triển một động lực tăng trưởng đáng kể. Như vậy cần ghi nhận rằng chính đô thị hoá tích tụ đói nghèo, chứ không phải là nguyên nhân gây ra đói nghèo.

Đô thị hoá có thể là cơ hội cho nông thôn, nếu đặt nông thôn ở vị trí hỗ trợ cho đô thị. Vậy nên đối lập nông thôn với đô thị là vịêc làm vô bổ. Hơn nữa, nếu các đô thị gò bó bởi các vấn đề môi trường, thì các đô thị này có thể đồng thời góp sức vào việc giải quyết và quản lý một cách hợp lý hơn các thách thức đó nếu có chính sách hiệu quả và hợp lý.

Sự gia tăng đô thị mà chúng ta đã chứng kiến trong những tập kỷ qua là chưa từng có trong lịch sử nhân loại, cũng tạo ra những nguy cơ và cơ hội cho phát triển. Nó đòi hỏi một câu trả lời phù hợp với thách thức. Điều này trước tiên phải thể hiện ở việc thừa nhận tính tất yếu của hiện tượng đô thị hoá và những lợi ích nó mang lại, cũng như thừa nhận quyền của người nghèo được hưởng những khả năng mà cuộc sống đô thị mang lại.

Nếu lớp dân cư nghèo nhất là những người mang lại sự năng động không thể nghi ngờ và những giải pháp đột phá để đáp ứng nhu cầu của cộng đồng cư dân này, giấ mơ « thành thị » được nuôi dưỡng bởi biết bao con người không thể thực hiện nếu thiếu vắng sự giúp đỡ từ bên ngoài. Các đô thị nhất thiết phải đảm đương được việc cung cấp cho dân cư những dịch vụ cần thiết để đáp ứng những nhu cầu căn bản nhất. Trước tiên là nhà ở : Việc tiếp cận với nhà ở đối với người nghèo là nhân tố căn ban cho cuộc sống tự chủ của họ, nhưng cũng cần dịch vụ y tế và giáo dục, trong đó sức khoẻ sinh sản và tái sản xuất là yếu tố hàng đầu. Ví dụ, thực tế chứng minh rằng phụ nữ được giáo dục tốt có cơ hội tiếp cận với dịch vụ sức khoẻ căn bản thường chọn sinh con ít và như thế sẽ có một sức khoẻ tốt hơn. Việc tập trung dân cư sẽ thúc đẩy sự tiếp cận của họ với các dịch vụ đó.

Sự chú ý và quan tâm tới nay tập trung chủ yếu vào các siêu đô thi, trong khi hơn một nữa dân cư đô thị trên thế giới sống trong các thành phố dưới 500.000 dân vốn hết sức thiếu các điều kiện căn bản. Không được đặt các đô thị nhỏ này bên lề của sự phát triển.

Ngoài ra, trên quy mô toàn cầu, chính trong những khu phố ổ chuột là nơi tiến hành cuộc đấu tranh để thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỉ, đặc biệt là mục tiêu giảm một nữa số người rất nghèo từ nay đến năm 2015.

Bằng một cái nhìn dài hạn, việc có một kế hoạch kiến lược và sự lãnh đạo dũng cảm , kiên quyết dám đương đàu với những lợi ích mà vốn tạo ra sự nghèo đói đô thị, có thể quyết định lối ra cho cuộc chiến đấu này. Những cũng cần có những cố gắng ở tầm quốc tế để giúp đỡ những cố gắng ở tầm quốc gia, vì sức mạnh của nền kinh tế thị trường không cho phép mỗi quốc gia tự giải quyết những vấn đề liên quan đến nhu cầu của những cư dân nghèo nhất ở đô thị.

Tương lại chúng ta dù muốn hay không sẽ bị đô thi hoá, cần kíp phải dẫn dắt chính sách phát triển đô thị và thừa nhận chỗ đứng của chính sách này trong hệ thống chính sách công quyền nhắm thu hút một phần tiềm lực phát triển của nó và giảm thiểu đói nghèo trong khu vực đô thị cũng như nông thôn

Thay vì bi kịch hoá hiện tương di cư vào thành phố, cần phải làm cho nó trở thành một nhân tố của phát triển.

1 BÌNH LUẬN

  1. Như đã hứa sẽ đọc bài này sau khi viết xong 1 bài cũng vẫn đề đô thị hoá. Đây là những câu mà tôi thấy tâm đắc nhất của bài này: “Đô thị hoá có thể là cơ hội cho nông thôn, nếu đặt nông thôn ở vị trí hỗ trợ cho đô thị. Vậy nên đối lập nông thôn với đô thị là vịêc làm vô bổ.”
    Vì vậy cần có những nhà quản lý giỏi, đủ tài cầm trich, điều tiết những đô thị phát triển đang ngày càng vượt xa dần tầm kiểm soát, tổng hợp, đánh gía lại toàn bộ quỹ đất hiện hưũ để khai thác hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên trước khi tiếp tục mở rộng nó.