Mô hình nào cho các đô thị đang trên đà mở rộng của Việt Nam ?

260

image

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc gia thì mở rộng địa giới các đô thi vốn có là xu thế tất yếu, tuy nhiên việc mở rộng địa giới hành chính của các đô thị vốn có cũng gặp không ít trở ngại, đặc biệt là thách thức về việc giảm bớt sự chênh lệch về phát triển giữa khu vực mới và cũ trong cùng một đô thị cũng như giữa các trung tâm đô thị với nhau.

Từ những năm 1960, việc đô thị hoá diễn ra nhanh chóng tại nhiều quốc gia kèm theo đó là những thách thức liên quan giao thông, rác thải đô thị, ô nhiễm môi trường, nhà ở cho người thu nhập thấp tại các đô thị đông đúc và quy hoạch kém…buộc chính quyền phải chuyển đối chiếc lược quy hoạch đô thi bằng cách xây dựng các thành phố mới (được quy hoạch một cách hệ thống hơn) xung quanh các đô thị vốn có nhằm giảm thiếu việc tập trung các thành phố lớn và cố gắng tạo nên nhiều trung tâm đô thị trên toàn quốc thay vì quá tập trung vào một vài thành phố lớn như trước đây. Có thể thấy chính sách này được áp dụng ở nhiều nước. Ví dụ tại Anh chính quyền xây dựng thành phố Crawley và Milton Keynes gần London, Poundberry gần Dorset. Tại Pháp Villeneuve- d’Ascq ở ngoại vi Lille, l’Isle d’Abeau gần Lyon, Ouest Provence ở ngoại ô Marseille. Đặc biệt tại Pháp để giảm gánh nặng tập trung cho thủ đô Paris, người ta cho xây dựng thêm 5 đô thị vệ tinh ở vùng phụ cận gồm Cergy-Pontoise, Évry, Marne-la-Vallée, Sénart et Saint-Quentin-en-Yvelines,

Để giải quyết những khó khăn do việc mở rộng địa giới hành chính một cách máy móc, xu thế của quy hoạch đô thị hiện đại là phát triển các đô thị vệ tinh nhằm san sẽ bớt gánh nặng cho các đô thị sẵn có và góp phần giảm bớt sự chênh lệch về phát triển giữa các khu vực lãnh thổ khác nhau. Tuy nhiên điều này cũng cũng gặp không ít thách thức, trước hết là chính sự phân tán các đô thị sẽ gây ra những khó khăn về mặt quy hoach cũng như quản lý. Vấn đề đặt ra là tìm kiếm một hình thức hợp tác phù hợp giữa các đô thị vệ tinh và đô thi trung tâm.

Quy hoạch đô thị phải được đặt trong tổng thể chính sách quy hoach lãnh thổ nói chung, đặc biệt với quốc gia có phần lớn dân cư vẫn sống ở nông thôn như Việt Nam. Theo đó quy hoạch lãnh thổ là tổng hợp các hoạt động được khởi xướng và điều hành bởi nhà nước nhằm liên kết các khu vực lãnh thổ với mục tiêu phát triển kinh tế, phân bố lại dân cư, hệ thống giao thông và thông tin liên lạc, dần tiến tới xóa bỏ sự chênh lệch về phát triển giữa các vùng lãnh thổ khác nhau. Trong đó mục tiêu giảm bớt và dần tiến tới xóa bỏ sự chênh lệch giữa các khu vực, tạo ra sự phát triển hài hòa và bền vững của toàn bộ lãnh thổ quốc gia phải luôn được chú trọng.

Công tác quy hoạch lãnh thổ nói chung và quy hoạch đô thị nói riêng là một hoạt động phức hợp cần sự tham gia tích cực của các nhà hoạt định chính sách từ địa lý, kinh tế, khoa học pháp lý, sinh thái học, nhân chủng học, chính trị học, xã hội học… Trong đó, việc xây dựng một hệ thống pháp luật làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách về quy hoạch lãnh thổ cũng như giải quyết các vướng mắc trong quá trình dây dựng và chỉnh trang đô thị đóng một vai trò quan trọng.

Sau đây là một vài kinh nghiệm từ nước Pháp

Pháp từ trước tới nay tập trung phát triển đô thi quanh khu vực thủ đô Paris và vùng Ile de France, khu vực này có diện tích 12000 km² (1/40 diện tích nước Pháp) nhưng chiếm tới 1/5 dân số cả nước (12 triệu người). Trong vùng Ile de France thì chỉ riêng Paris và khu vực phụ cận đã chiếm tới 90 % dân số của cả vùng trong khi chỉ chiếm 20% diện tích. Việc tập trung quá đông dân cư trên một khu vực lãnh thổ nhỏ hẹp tạo ra không ít khó khăn cho các nhà quản lý đô thi, đặc biệt là nạn ùn tắc giao thông và ô nhiễm không khí do một lượng lớn hàng triệu xe hơi gây ra. Tránh mắc lại những hạn chế do việc quy hoạch theo mô hình « siêu đô thị » từ mấy chục năm nay các nhà quy hoạch Pháp tập trung phát triển mô hình đô thị vệ tinh quanh các trung tâm đô thị vốn có, xem đây là chiến lược hợp lý và mang tính bền vững nhằm giảm bớt áp lực và gánh nặng về dân cư, nhà ở và giao thông cho các đô thị lâu đời của Pháp, đồng thời tạo điều kiện giảm dần sự chênh lệch về phát triển giữa các khu vực lãnh thổ.

Vấn đề đặt ra trong việc xây dựng các thành phố vệ tinh không chỉ là xây dựng một hệ thống giao thông và giao thông công cộng liên đô thị nối kết chúng lại với nhau (Như một số ý kiến gần đây trên các báo chí Việt nam, ví dụ ý kiến của tác giả Nguyễn Đỗ Dũng từ Canada, TT ngày 01/04) mà tổng thể và đồng bộ hơn cần một khuôn khổ pháp lý phù hợp để liên kết các thành phố vệ tinh với đô thị trung tâm nhằm tận dụng và phát huy được thế mạnh của mỗi đơn vị lãnh thổ. Bởi vì ngay tại một nước phát triển và có ngành quy hoạch phát triển lâu đời như Pháp thì các xã phường nhỏ cũng thiếu phương tiện cần thiết để đảm bảo các nhiệm vụ ngày càng trở nên phức tạp và chi phí cao.

Nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển hài hòa giữa các đô thi trung tâm và các đô thi vệ tinh quanh nó, những năm gần đây tại Pháp thường sử dụng thuật ngữ « hợp tác liên đô thị » (intercommunalité hay coopération intercommunale), vốn được manh nha hiện từ cuối thế kỉ 19, hình thức hợp tác liên đô thị đươc chú trọng phát triển từ đầu những năm 90, đặc biệt là trong khuôn khổ luật ngày 6 tháng 2 năm 1992. Trong vòng 10 năm sau đó, hình thức quản lý này có được một chỗ đứng vững chắc trong lĩnh vực quy hoạch và quản lý đô thị, với sự tiếp sức của luật Chevènement ngày 12 tháng 7 năm 1999 về đơn giản hóa phương thức hợp tác và liên kết chuỗi đô thị.

Dưới góc độ pháp lý thì các đô thị trung tâm và đô thị vệ tinh vẫn là các đơn vị hành chính độc lập, có thẩm quyển riêng biệt (hệ thống hành chính của Pháp là phân quyền và tản quyền, khác với hình thức tập quyền của hệ thống hành chính Việt Nam), vấn đề đặt ra khi phát triển hình thức đô thị vệ tinh là tạo ra một khuôn khổ pháp lý thuận lợi và hiệu quả cho sự hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình phát triển giữa đô thị trung tâm và các đô thị vệ tinh.

Khi các đô thi quyết định gộp lại nhằm cùng thực thi một số nhiệm vụ nào đó, như thu dọn và xử lý rác, cấp thoát nước, giao thông công cộng, hay cùng xây dựng 1 chiến lược, dự án phát triển, quy hoạch và chỉnh tranh độ thị, các đơn vị này có thể lập ra các « cơ quan công quyền về hợp tác liên đô thị » mà thành viên được cử từ đại diện của các đô thị thành viên.

Như vậy có thể thấy, thẩm quyển mà các cộng đồng liên đô thị được thực thi khá đa dạng :Thu dọn và xử lý rác thái, cấp thoát nước, giao thông công cộng, quy hoach và chỉnh trang độ thị, xây dựng đường sá, nhá ở, các công trình văn hóa và thể thao…. Hình thức hợp tác liên đô thị này thực tế giải quyết được những khó khăn về quản lý do việc phân tán các độ thi gây ra, đồng thời không phá vỡ cấu trúc và địa giới của các đô thị hiện có.

Theo quy định của Pháp, liên kết chuỗi đô thị được tổ chức theo 3 cấp độ, phụ thuộc vào quy mô dân số của nhóm đô thi đó :

– Chuỗi liên kết các xã (Communauté de communes, chủ yếu ở khu vực nông thôn), tập hợp các đơn vị lãnh thổ cấp xã với mục tiêu liên kết các đơn vị này nhằm xây dựng đề án quy hoạch và phát triển của các đơn vị thành viên.

– Chuỗi liên kết đô thị trung tâm và vùng ngoại vi (Communauté d’agglomération) cho các chuỗi đô thị có quy mô dân số từ 50.000 đến 500.000.

– Chuỗi liên kết đô thị (Communauté urbaine ),áp dung cho các đô thị có dân số hơn 500.000 người).

Hai hình thức liên kết cuối có mục tiêu xây dựng và quản lý đề án phát triển chung của chuỗi độ thi trong lĩnh vực quy hoạch lãnh thổ.
Các đơn vị thành viên phân bố ngân sách cần thiết để cơ quan hợp tác liên đô thị có đủ khả năng tài chính thực hiện các nhiệm vụ đã phân bổ. (Luật mới năm 2004 cho phép các thiết chế này có ngân sách riêng phân bố từ các cấp hành chính cao hơn là vùng và tỉnh cũng như nhận phân bố từ ngân sách quốc gia)

Cho tới nay hơn 84% dân số Pháp sống trong các khu vực lãnh thổ áp dụng chiến lược liên kết chuỗi đô thị này (tổng cộng 160 chuỗi liên kết khác nhau) cho thấy sự thành công của đề án.

Có thể thấy, việc tạo ra một cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc hợp tác liên kết giữa các thành phố vệ tinh và đô thị trung tâm đóng vai trò rất quan trọng, vì nó giúp đô thị thành viên đóng góp và huy động các phương tiện của mình nhằm đảm bảo hoạt động tối ưu nhất của dịch vụ công cộng ở địa phương (ví dụ như vấn để thu dọn và xử lý rác thải sinh hoạt hay giao thông công cộng liên vùng). Liên kết chuỗi đô thị tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế địa phương cũng như đẩy mạnh chính sách quy hoạch và chỉnh trang đô thị.

Ở tầm quốc gia, với sự đồng thuận của các đơn vị hành chính tạo ra một chiến lược chung cho phép giải quyết những thách thức mang tính toàn cục trong vấn đề chỉnh trang lãnh thổ, cụ thể là những vấn đề phát sinh trong phát triển đô thị và kèm theo đó là nhưng hệ luỵ của hiện tượng thu hẹp không gian nông thôn do mở rộng đô thị và phát triển các khu công nghiệp tập trung.

Liên kết chuỗi cho phép các địa giới lãnh thổ tạo ra một cơ quan công quyền chung chuyên biệt nhằm đảm bảo thực thi một số chức năng mang tính thường xuyên (thu nhặt và xử lý rác thải đô thị, cấp thoát nước, giao thông công cộng), hoặc là cùng xây dựng các đề án phát triển kinh tế- xã hôi, quy hoạch, chỉnh trang và quan lý đô thị. Cũng nên chú ý rằng các cấu trúc liên lãnh thổ này khác với các đơn vị hành chính lãnh thổ độc lập ở chỗ nó chỉ có một số thẩm quyền hạn chế (phân định rõ chức năng và thẩm quyền khi thành lập). Hợp tác liên đô thị không phải là hình thức sát nhập các đơn vị lãnh thổ khác vào một đô thi trung tâm như hình thức mở rộng địa giới thủ đô Hà Nội đang được đệ trình tại Việt Nam.

Mô hình liên kết chuỗi đô thị tuy mới mẻ nhưng đã được áp dụng tại một số quốc gia khác, ví dụ như tại vùng Québec (Canada) với cộng đồng liên kết đô thi Montréal được tạo ra vào năm 1970 và nhường chỗ cho hình thức « Montréal mới » gồm các đơn vị hành chính cũ được hợp nhất và phát triển với một chu vi rộng lớn hơn.

Tại một số quốc gia châu phi do ảnh hưởng của thời kì lục địa nên chịu nhiều ảnh hưởng của cách thức tổ chức đô thị của pháp. Nhiều thành phố lớn được tổ chức theo mô hình liên kết chuỗi đô thị. Ví dụ như Bamako của Mali, Niamey của Niger, Dakar của Senegal, thành phố lớn nhất của Maroc Casablanca…

Tại Châu Âu một số quốc gia cũng áp dụng hình thức này, ví dụ như các thành phố thuộc vùng walloni của Bỉ như Charletoi, Liège, Mons- Borinage…

Mô hình nào cho các đô thị đang trên đà mở rộng của Việt Nam ?

Thay vì mở rộng địa giới hành chính của các đô thị một cách máy móc, Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm phát triển đô thị vệ tinh theo mô hình của Pháp, đặc biệt là cách thức đảm bảo sự hợp tác và liên kết nhằm phát triển bền vững giữa các thành phố vệ tinh và đô thị trung tâm.

Trong 3 loại hình liên kết chuỗi đô thị đề cập ở trên, mô hình chuỗi liên kết đô thị (Communauté urbaine) là hình thức hợp tác liên kết phù hợp với các đô thị lớn của Việt Nam như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng… (Theo quan điểm của các nhà quy hoạch Pháp thì đô thị trên 500.000 dân được xếp vào loại lớn, các nhà quy hoạch Liên xô cũ thì lấy mức 1 triệu dân. Pháp là quốc gia có truyền thống quy hoạch đô thị rất tốt, ngoài thủ đô Paris theo mô hình siêu đô thi Megacity thì các đô thị còn lại được phân bố đều và rộng khắp cả nước, và chỉ một vài thành phố sấp xỉ quy mô 1 triệu dân)

(TP Hồ Chí Minh đã và đang phát triển theo mô hình siêu đô thị Megacity nhiều đô thị trung tâm ở châu Á như Thượng Hải, Seoul, Bangkok, Manila, cần áp dụng một mô hình quản lý khác phù hợp hơn)

Mô hình hợp tác liên đô thị này được tạo ra bởi luật ngày 31 tháng 12 năm 1966, ban đầu áp dụng cho một số trung tâm đô thị lớn như Bordeaux, Lille, Lyon, Strasbourg, với mục đích giải quyết sự chênh lệch giữa các cấu trúc hành chính đang hiện hành và thực tế về mặt địa giới đang được mở rộng của các đô thi trên.

Luật Chevènenement ngày 12 tháng 7 năm 1999 quy định rõ quy mô dân số tối thiểu của các chuỗi liên kết này là 500.000 người trong đó ít nhất có một thành phố dân số hơn 50.000 người.

Để tăng cường sự hợp tác giữa các chuỗi đô thị, một liên đoàn các liên kết đô thị toàn Pháp được thiết lập (ACUF) tập hợp 14 liên kết độ thi.

Liên minh đô thi được quản lý bởi một hội đồng liên minh bao gồm các uỷ viên là thành viên của hội đồng thành phố thành viên.

Luật cũng quy định rõ khi thành lập các liên kết đô thi, các đơn vị thành viên phải san sẽ một số thẩm quyền của mình cho hội dồng trong một số lĩnh vực sau:

*Phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá (xây dựng các cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị)

*Chỉnh trang không gian chung của cộng đồng liên kết ( Xây dựng các sơ đồ quy hoạc lãnh thổ hay đề án quy hoạch chung), xây dựng và quản lý hệ thống giao thông công cộng chung.

*Quản lý nhà ở xã hội (cho người thu nhập thấp)

*Chính sách đô thị.

*Các dịch vụ công ích : cấp thoát nước, nghĩa trang, chợ và trung tâm mua sắm.

*Môi trường đô thị : quản lý rác thải, chống ô nhiễm không khí và tiếng ồn.

Những « chính quyền » liên kết đô thị này có thể được trao thêm những thẩm quyền khác từ các đô thị thành viên nếu các thành viên này thấy cần thiết.

Nguyễn Quân ( nghiên cứu sinh tại viện nghiên cứu pháp lý về xây dựng và quản lý đô thị, ĐH Toulouse 1.)

6 BÌNH LUẬN

  1. Hi, bọn Pháp, pháp luật hoàn thiện nên cái gì cũng nâng lên thành luật hết bác Architong ơi.
    Không phải “bộ luật” nhé. Vì bộ luật tiếng Pháp là “Code”, “la loi” chỉ là một luật thôi.
    Về concentralisation và decentralisation tiếng việt dịch là phân quyền và tản quyền. Có thể thấy sự hiện diện của những nguyên tắc này qua các thức tổ chức chính quyền địa phương với cấp vùng và hàng tỉnh, tức là giao cho chính quyền địa phương nhiều quyền lực hơn (về ngân sách, đầu tư). Ngoài ra sự tham gia của người dân vào quản lý đô thị như bác nói theo em không phải mới mẻ gì ở Pháp, vì cơ cấu chính quyền của Pháp từ lâu đã thể hiện điều này: Ở hàng tỉnh, thì chính quyền trung ương đại diện bằng ông tỉnh trường (prefet do bọn tw chỉ định), người dân bầu các thành viên của các conseil vùng và tỉnh. (có thể xem như hội đồng nhân dân mình), nhưng quan trọng hơn là ở mỗi thành phố hay làng, người dân trực tiếp bầu lên bọn maire (thị trưởng hay trưởng thôn).

    Những vấn đề về bộ máy hành chính và vấn đề liên quan, em sẵn sàng nói, vì em là dân luật gộc. Nhưng càng nói càng làm phức tạp và khó hiểu thêm vấn đề. Đặc biệt là hệ thống hành chính khổng lồ của Pháp. Thân ái

  2. Cac chu hoc o Tay cu nguoi tung nguoi hung lam anh met qua

    Dong chi CYF gi do neu viet bai nay, that la tuoi tre tai cao.

    Co dieu cho anh hoi o mot bai viet mang ti’nh khoa ho.c nhu the nay, chu’ hay du`ng chieu map mo da’nh lan con den, lam anh do.c met qua’.

    Lay vi’ du. nhu ca? bai viet chu’ ni.nh mo hinh do thi me./do thi. ve tinh la nhat qua dat mie. no’ roi. Nhung lai. gia do` ngay tho la “em dang di tim chan ly’, thi phat’ hien no’ cac ba’c a.”

    Khoa hoc mot khi danh cho moi nguoi, de nghi chu’ don gian ho’a van de va viet bang mot ngon ngu bi`nh dan hon

    Thiet nghi bai viet chi dung lai o dinh nghia (definition) ve mot mo hinh QUAN LY/LIEN KET hanh chinh, chu ko phai la mot suy nghi (reflexion) that su ve mot mo hinh ve hi`nh thai’/ cau tru’c do thi. (Morphologie/forme urbaine)

    Nen tach biet 2 cai nay ra thi thay van de phuc tap hon nhieu, tra’nh tinh trang dao to bua’ lon

    Gop y hoi tho lo, cho moi ng cung hieu, mong ca’c chu’ thong cam

  3. Bác Hima: EM viết dưới góc độ quản lí, đặc biệt là quản lý bằng cơ chế pháp lý. Vì em chủ yếu quan tâm đến khía cạch đó thôi. Còn những chuyện thuần túa quy hoach thì là công việc của bác và mọi người rồi.
    Bài trên em đã bảo là viết nháp. Không phải là bài đã chỉnh sửa để đăng báo.
    Về cái gọi là khoa học, theo em cần có mấy loại khác nhau:
    – Khoa học kiểu phổ thông cho đại đa số quần chúng, thì nên viết giản dị,dễ hiểu. Dạng nhuw viết đăng báo.
    – Khoa học theo nghĩa hẹp. Bác cũng đòi cho tất cả mọi người thì em e không phải. Kiểu như em viết luận văn, luận án, em cần gì phải bác và mọi người phải hiểu hết. Chỉ cần những người trong ngành hẹp em nghiên cứu hiểu là ổn rồi.

  4. Dân chủ hay không em không biết, nói linh tinh P15 bóp trym thì bỏ mịa.
    Cái chính là trình độ quản lý của mình rất còi. Thứ hai cứ nhìn kiểu xây dựng đề án mở rộng Hà nội lấy được bằng cách bịt mồm bịt miệng anh em, thì phương pháp tối ưu chứ siêu việt mấy các sếp ấy cũng không thèm nhìn.
    ĐỒng ý với bác Architong là cái ý tưởng em nêu khó lòng mà áp dụng ở Vn. Không phù hợp từ nền tảng xã hội, dân trí, ý thức … Cho nên em viết chỉ để mà viết cho vui. Đợi em lên làm tổng bí thư rồi hi vọng sẽ áp dụng tí chút.

  5. 🙂
    Mới tham gia, có ý kiến tí”
    Xin góp ý dưới quan điểm triết học:
    A. Một số vấn đề liên quan nội dung bài viết:
    1. Qui hoạch là phương tiện để đạt mục tiêu phát triển, còn quản lý đô thị lại là phương tiện để quản lý sau quy hoạch; cả 2 đều là phương tiện, chỉ tập trung vào 1 trong 2 cũng không đủ, chỉ là trọng hình thức không trọng bản chất (có thể liên tưởng câu chuyện 5 anh mù sờ voi). Do đó, phải thấy vấn đề gồm các mắc xích sau (trong quan hệ biện chứng):
    o Cấp vĩ mô -> chiến lược phát triển kinh tế, qui mô đô thị – (mục tiêu)
    o Nhà qui hoạch -> mô hình phát triển đô thị – (phương tiện) .
    o Nhà quản lý -> cấu trúc, mô hình quản lý – (phương tiện).
    o từ 3 quay trở ngược 1 nhưng ở góc độ chính trị (luật) để làm công cụ. Cụ thể chính quyền đô thị là vấn đề đã được nghiên cứu xem xét của thành phố HCM (theo tui biết). Nói theo ngôn ngữ triết là kiến trúc thượng tầng đang điều chỉnh để phù hợp cơ sở hạ tầng hoặc đại khái là quan hệ sản xuất điều chỉnh để theo kịp lực lượng sản xuất).
    o Do đó, mô hình đô thị không liên quan nhiều đến quy hoạch vùng hay lãnh thổ như đặt vấn đề đầu bài viết (vì chỉ quan hệ hệ quả tất yếu), không cần rườm rà phần này.
    2. Tên đầu bài là mô hình nào cho các đô thị (công việc của nhà quy hoạch), nhưng tác giả lại nhắm tới mục tiêu quản lý đô thị bằng chính sách (lý giải nhiều về mô hình quản lý hành chính), như vậy là không thống nhất, nên chăng đặt tựa là “các vấn đề trong quản lý đô thị vệ tinh”, tránh những bàn cãi do hiểu nhầm.
    3. Riêng về vấn đề “mô hình nào cho đô thị đang trên đà mở rộng” thì quá rõ ràng rồi, chỉ có 2 giải pháp, hoặc là tập trung (vừa tăng qui mô, vừa mở rộng ranh giới – đây là khuynh hướng tự phát) hoặc phân tán (không tăng qui mô, ranh giới mà tạo các đô thị vệ tinh để giãn áp lực – cái này đòi hỏi phải có quy hoạch – chất xám nhiều 1 chút).
    4. Riêng về quản lý hành chính cho mô hình đô thị vệ tinh thì có 2 vấn đề:
    o Góc độ chính trị: phải có cách mạng trong chính sách, cơ chế (rõ rồi) – các bác nghiên cứu quản lý hành chính tha hồ phang, cũng không khó lắm vì VN có nhiều tấm gương để noi theo.
    o Góc độ khoa học lại càng đơn giản (vì tây làm nhiều rồi), các bác du học quá rành, nhưng cái này thì lại không cần bình luận vì thuộc phạm trù kiến thức.
    B. Một số góp ý về ý trao đổi trong phần bình luận:
    1. Là chỉ có 1 khoa học duy nhất cho mọi người, vấn đề là diễn đạt theo ngôn ngữ khác nhau cho đối tượng khác nhau.
    2. Hiện nay trong điều chỉnh quy hoạch thành phố HCM đã và đang tập trung vào định hướng phát triển dạng đô thị vệ tinh này rồi, chứ có xa lạ gì mà các bác bảo khó có cơ hội áp dụng vào Việt Nam ??? (http://www.horea.org.vn/muctinkhac_ct.php?id=22255).