Các phong trào quy hoạch – P3: Thành phố vườn

960

3. CÁC THÀNH PHỐ VƯỜN

Ebenezer Howard và Các Thành Phố Vườn Của “Ngày Mai”

Ebenezer Howard, một chuyên gia tốc kí trong toà án ở Luân Đôn, từ lâu đã rất quan tâm tới sáng chế máy móc và đã chuyển hẳn sang các chu kì đầy sáng tạo này. Sinh ra tại Anh năm 1850, trước khi trở về nước Anh một cuộc sống bình lặng của giới trung lưu ông sống ở miền Tây nước Mỹ ở những năm đầu tuổi 20. Cũng như hàng nghìn độc giả khác, Howard đã bị cuốn tiểu thuyết viễn tưởng mang tên “Nhìn lại phía sau” (Looking Backward) năm 1889 của Edward Bellamy, một nhà tư bản công nghiệp ở Massachusetts lôi cuốn. Cuốn tiểu thuyết này chứa đựng một lòng tin đầy lạc quan đối với công nghệ và mối quan hệ hợp tác trong xã hội. Đặc biệt quan tâm tới tình trạng quá đông đúc của Luân Đôn, nơi ông sinh sống vào năm 1898 Howard đã xuất bản cuốn sách mang tên Ngày mai: Một con đường hoà bình dẫn tới Cải cách thực sự (Tomorrow- A peaceful Path to Real Reform). Năm 1902, tác phẩm này được tái bản với tên gọi Các thành phố vườn của “ngày mai” (Garden Citíe of To-morrow)

Trong tác phẩm này, Howard đã giải quyết một câu hỏi đơn giản và cơ bản là, ‘trong một diện tích đất rộng 6000 mẫu (2.400.000 m2), chúng ta sẽ làm thế nào để sử dụng nó một cách tốt nhất?”. Câu trả lời của ông là một bản đề xuất phi tập trung hoá triệt để các thành phố công nghiệp.Quá thấu hiểu và ghê sợ tình trạng khốn khó trong các khu nhà ổ chuột đầy rẫy ở Luân đôn, Howard đã đưa ra ý tưởng về một mạng lưới các thành phố vệ tinh tương đối độc lập, giúp ngăn chặn những người di cư vào Luân đôn. Các thành phố “vườn” đầu tiên sẽ ngăn không để cho thành phố trung tâm bị phình ra vì đông dân. Các đô thị này sau này thậm chí còn khiến các vùng xung quanh bẩn thỉu phía Đông Luân Đôn sẽ dần không còn người ở, trong khi đó điều kiện sinh sống của những phần còn lại của đô thị lại được cải thiện đáng kể. Theo ngôn từ của Howard, “khi nhanh chóng xây dựng thành phố vườn này, các đô thị khác tất yếu sẽ phải xây dựng theo, dòng người di cư vào các đô thị vốn cũ, đông đúc và đầy các khu ô chuột nhộn nhạo sẽ phải xem xét lại- và dòng người sẽ di chuyển theo hướng ngược lại, tới các đô thị mới, sáng sủa, đẹp và trong lành.

Thành phố Vườn hướng tới mục tiêu hài hoà cả đô thị và nông thôn, cả con người và tự nhiên: vừa đủ lớn để tạo thuận lợi cho sự tập trung dân cư, nhưng cũng đủ nhỏ để duy trì sự gần gũi với nông thôn. Giống như Frederick Law Olmsted, Howard muốn tích hợp những lợi thế của cả đô thị và nông thôn. “Cả đô thị và vùng nông thôn đều không thể hiện đầy đủ mục đích của tự nhiên. Xã hội loài người và vẻ đẹp của tự nhiên là để phục vụ, thưởng thức cùng nhau. Hai thế giới đó phải là một…. Đô thị và nông thôn phải sống gần nhau và từ sự kết hợp đầy thú vị này sẽ mang lại niềm hy vọng mới, một cuộc sống mới và một nền văn minh mới”.

Howard quan tâm tới cả kinh tế chính trị và kiến trúc đô thị, nhưng mảng kiến túc đô thị gây được sự chú ý hơn cả. Ông đã hình dung một tập hợp các đô thị nằm tự do bao quanh một đô thị trung tâm, nối với nhau và nối với thành phố trung tâm bằng các đường tàu. Khi vòng tròn đầu tiên của các đô thị bao quanh thành phố trung tâm được lấp đầy, ông mường tượng tới việc phát triển vọng tròn thứ hai. Trong mọi trường hợp, các đô thị này sẽ được tách biệt với thành phố trung tâm và các đô thị vệ tinh khác nhờ những vùng đất nông nghiệp chưa phát triển- những vùng đất nông nghiệp trên danh nghĩa, cũng như trên thực tế là một vành đai xanh cho các đô thị. Với mỗi thành phố Vườn, Howard đề ra một diện tích rộng khoảng 1000 mẫu (400.000 m2) cho phần hạt nhân với khoảng 30 nghìn dân, được bao quanh bởi một diện tích đất nông nghiệp rộng khoảng 5000 mẫu (2.000.000 m2) với 2000 dân và cung cấp rau, quả, các sản phẩm sữa cho đô thị. Trung tâm đô thị tốt sẽ có các dịch vụ như công viên, thư viện, nhà hát, bệnh viện, toà thị chính, và khu mua sắm. Sáu (6) khu đơn vị ở riêng biệt đều phải lấy một trường học làm trung tâm. Các địa điểm công nghiệp phục vụ cho sự tự tồn tại của đô thị sẽ được đặt ở rìa đô thị để tránh khói ô nhiễm vào trung tâm đô thị.

image

image

image

Howard vừa là một người theo chủ nghĩa xã hội vừa là một người có tầm nhìn rộng về phát triển đô thị. Ông hy vọng đô thị sẽ thuộc sở hữu chung, đại diện cho cộng đồng. Việc tăng giá trị đất đai sẽ giúp tăng khả năng tài trợ cho các dịch vụ và tiện nghi công cộng. Người dân ở các đô thị tự họ sẽ quyết định họ cần dịch vụ nào và mức thuê dịch vụ đó ra sao. Các yếu tố kinh tế trong tư tưởng của Howard cho thấy ảnh hưởng của Henry George, một người Mỹ – cuốn sách Tiến bộ và Nghèo đói (Progress and Poverty) của Henry George lập luận cần phải đánh “chỉ một loại thuế (single tax)” lên đất bởi sự tăng giá trị của đất là khoản lợi nhuận không làm mà có, và sự tăng giá trị này là sản phẩm của việc quy mô xã hội tăng lên chứ không phải do hành động của của một cá nhân. Những khía cạnh kinh tế và chính trị này trong tầm nhìn của Howard mặc dù rất quan trọng đối với bản thân ông, song lại không có ảnh hưởng lớn như tư tưởng vĩ đại của ông rằng, “những món quà miễn phí của Tự Nhiên” có thể được thiết kế để trở thành một phần cấu thành của đô thị phi tập trung.

Ghi chú:
1. http://www.henrygeorge.org/denigris.htm – giải thích thêm về single tax
2. http://www.library.cornell.edu/Reps/DOCS/howard.htm – sách Garden Cities of Tomorrow ở trên internet
3. cần dịch các sơ đồ bản vẽ

Các Thành Phố Vườn Ở Anh

Howard đã khích lệ nhiều người đi sau và đầu thế kỉ 20 những ý tưởng của ông đã hai lần được mang ra thực hiện. Letchworth, cách Luân Đôn 35 dặm, đã được xây dựng với diện tích 4000 mẫu vào năm 1905. Các kiến trúc sư Barry Parket và Raymond Unwin đã điều chỉnh sơ đồ của Howard cho phù hợp với địa điểm thực tế với thành công lớn. Rất nhiều cư dân của đô thị cũng làm việc tại đó, các địa điểm xây nhà khá rộng rãi (đối với tiêu chuẩn Anh); và các vành đai xanh giúp cho đô thị tách xa khỏi các khu lân cận. Welwyn cũng tiếp bước vào năm 1919 và cũng là một sự thành công về cả tài chính và thiết kế.
Khái niệm Thành phố Vườn đã có ảnh hưởng về mặt dài hạn trong chương trình “các đô thị mới” – tâm điểm quy hoạch của Anh sau chiến tranh thế giới thứ II. Chính phủ Anh đã định ra một vành đai xanh bao gồm các khu vực hạn chế phát triển xung quanh các khu ngoại ô hiện có ở London trong những năm 50 và 60, xây dựng các thành phố vệ tinh như Hemel Hempstead bên ngoài khu vực đó. Các đô thị mới có xu hướng rộng hơn đáng kể so với đề xuất của Howard và các đô thị này phải được thiết kế xung quanh cả ô tô lẫn tàu.

image

hình 1: thành phố vường Letchworth – hình phải là trung tâm khu đô thị với quảng trường

Các Thành Phố Vườn Ở Mỹ

Cùng thời với Welwyn, một khu phố được quy hoạch sớm ở Mỹ cũng chịu ảnh hưởng từ những ý tưởng của Howard là Forest Hills Village, được xây dựng ở Queens, New York năm 1913. Công trình này do Quỹ Russell Sage xây dựng và là một khu phố biểu trưng cho nhà ở thiết kế tối ưu giành cho tầng lớp trung lưu. Cũng theo trào lưu mới nổi này là một số khu thành phố dành cho những người làm trong lĩnh vực quốc phòng do liên bang tài trợ cũng được xây dựng trong suốt chiến tranh thế giới thứ nhất như Làng Yorkship ở Camden, New Jersey và Làng Hilton ở Newport News, Virginia.
Một ứng dụng ở quy mô lớn là Radburn, New Jersey, được xây dựng ở khu vực ngay khi đi qua cây cầu George Washington mới từ New York năm 1928. Do Henry Wright và Clarence Stein thiết kế, Radburn nhằm hướng tới mục tiêu “Đô thị cho một kỉ nguyên Môtô”. Bản quy hoạch sử dụng nhiều yếu tố thiết kế mà hiện nay phổ biến trong các khu phố được quy hoạch. Các khu đất lớn, một đơn vị quy hoạch dân cư lớn không bị đường xe cộ xâm lấn, tạo đường đi liên tục cho người đi bộ từ mỗi toà nhà tới một khu giải trí lớn trong trung tâm và người đi bộ sử dụng đường hầm chui tại các nút giao thông chính. Những nhà thiết kế có ý định xây dựng Radburn cho khoảng 25 nghìn dân cư, nhưng chỉ một phần của công trình được xây dựng do cuộc Đại Suy thoái bùng nổ, làm cạn kiệt nguồn tài chính. Tuy nhiên Radburn đã và vẫn là một khu dân cư đô thị thành công.

image

hình 2: Radburn – hình bên phải là thiết kế điển hình một superblock

Chính Phủ Liên Bang và Các Đô Thị Vành Đai

Nếu Cuộc đại suy thoái đã làm ngừng việc mở rộng Radburn, New Jersey, thì nó lại tạo ra lực đẩy cho nhiều thành phố vườn được chính phủ liên bang tài trợ và xây dựng trong giai đoạn 1935-1939. Cơ quan tái định cư, một cơ quan được thành lập theo Thoả thuận mới (New Deal- tên một loạt những chương trình hồi phục và cải cách kinh tế Mỹ trong giai đoạn Đại suy thoái)- do Rexford Tug-well đứng đầu đã áp dụng các nguyên tắc quy hoạch của Thành phố Vườn và Radburn để phát triển 3 đô thị vành đai xanh mới là Greenhills, Ohio, gần Cincinati; Greendale, Winconsin, gần Milwaukee; và Greenbelt, Maryland, gần Washington DC. Đô thị thứ tư, nằm ở New Jersey đã không được xây dựng. Giống như mô hình của Howard, những đô thị này vừa là những thử nghiệm quy hoạch và xã hội, kiểm tra tính khả thi của một phương án xoá bỏ khu ổ chuột, giải quyết khủng hoảng nhà ở, và chỉ ra các khả năng tổ chức mang tính hợp tác (cooperative organization).

Với những kiến trúc sư và các nhà quy hoạch bị ảnh hưởng bởi sự sụp đổ kinh tế, các đô thị vành đai xanh có được tài năng thiết kế hàng đầu tham gia. Mỗi đô thị được thiết kế cho 4000 cư dân. Mỗi nơi có một trung tâm cộng đồng, một vành đai xanh bao quanh, và các khu phố lớn tách riêng đường đi của các phương tiện giao thông và người đi bộ. Greendale được xây dựng với những ngôi nhà tách biệt, Greenhills và Greenbelt lại được thiết kế với những dãy nhà phố và nhà căn hộ. Những cư dân đầu tiên ở đây được rà soát một cách cẩn thận vì các quan chức của Cơ quan Tái định cư muốn đảm bảo thành công của dự án. Greenbelt, mặc dù không được đặt tên, đã nổi bật lên như một ví dụ cho điều phải làm trong “Thành Phố”. “Thành phố” là một bộ phim tài liệu tham gia Hội chợ quốc tế ở New York năm 1939, do Lewis Mumford viết kịch bản, Pare Lorenz phụ trách hìnnh ảnh và Viện Quy Hoạch Mỹ tài trợ. Sau chiến tranh thế giới, Quốc hội Hoa Kì đã tư nhân hoá các đô thị song Greenbelt vẫn duy trì bản sắc đặc trưng nhất của nó.

Ảnh Hưởng Của Các Thành Phố Vườn

Thành phố Vườn của Howard và những nỗ lực ban đầu đưa ý tưởng của ông vào thực tế đã ảnh hưởng nhiều mặt lên sự hành nghề quy hoạch:
– Nhiều khu đô thị do liên bang đầu tư được xây dựng (như Norris, Tennessee và Los Alamos, New Mexico) để phục vụ cho việc xây đập hay nhu cầu quân sự phản ảnh một số các nguyên tắc thiết kế của Howard.
– Ý tưởng chuyển hướng phát triển đô thị sang các thành phố vệ tinh tự kiểm chế lại nổi lên ở Mỹ trong phong trào “các đô thị mới” những năm 1960 và 1970.
– Vành đai xanh, toàn bộ hay một phần, tiếp tục trở thành mục tiêu và phương tiện quản lý tăng trưởng quan trọng trong nhiều khu phố.
– Những khái niệm thiết kế như sự phân tác người đi bộ/phương tiện giao thông và các đơn vị ở để lại ảnh hưởng lên quy hoạch ngoại ô và các khu nghỉ mát.
Phát triển các đơn vị quy hoạch đa chức năng (Planned Unit Developments- PUDs) và Phát triển quy hoạch xoay quanh các nút thông công cộng (Transit-oriented developments-TODs)là các cách mới hơn triển khai những nguyên tắc thiết kế khu phố toàn diện mà Howard đã đúc kết.

Ghi chú:
http://en.wikipedia.org/wiki/Planned_Unit_Development – xem thêm về PUDs
http://en.wikipedia.org/wiki/Transit-oriented_development – xem thêm về TODs

Tham khảo

Bellamy, Berward, 1898. Looking Backward 2000-1889. Boston and New York: Houghton, Mifflin and Co.
George, Henry.1892. Progress and Poverty, 4th ed, New York: Appleton and Co.
Howard, Ebenzer. (1902)1946. Garden Citíe of Tomorrow. Reprint, London: Faber and Faber

+ Các phong trào quy hoạch- Phần 1: Truyền thống cảnh quan

+ Các phong trào quy hoạch – Phần 2: Kỹ thuật hạ tầng đô thị