Các phong trào quy hoạch- P2: Kỹ thuật hạ tầng đô thị

314

image

CÁC PHONG TRÀO QUY HOẠCH
Nguồn: “Urban Planning and Design Standards”
Tác Giả: Carl Abott, Ph.D., Portland State University, Portland, Oregon
Người Dịch: N.A.L.

2. KỸ THUẬT HẠ TẦNG CHO ĐÔ THỊ

Vệ Sinh và Sự Sống Còn

Các thành phố trong những giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, điển hình như hầu hết những thành phố ở Anh và Mỹ đầu thế kỉ 19, là những cái bẫy chết chóc. Tại đây, sự ô nhiễm môi trường, hoả hoạn và bệnh dịch tàn phá người nghèo. Lịch sử của các đô thị ở Mỹ ở thời kỳ đầu cũng bị đánh dấu bằng một loạt các dịch: sốt Rickettsia, sốt vàng và bệnh dịch tả. Các căn bệnh này đã có thể cướp đi sinh mạng của 5, 10 hay thậm chí là 15% số dân thành phố trong một năm. Mặc dù, những nhà quan sát đã biết rằng, các hố chất thải của người bị dò rỉ và những đường phố với chất đống rác thải thối rữa, chất thải của gia súc, các con ngựa chết chắc chắn là có hại cho con người, nhưng phải tới tận bản báo cáo của John Griscom năm 1845 về “Tình trạng vệ sinh của dân cư lao động ở New York” và một bản báo cáo tương tự về tình trạng ở Massachuset của Lemuel Shattuck năm 1850, mối quan hệ trực tiếp giữa các điều kiện sống bẩn thỉu và bệnh tật mới được chỉ rõ. Shattuck cũng là người đặt sáng lập Hiệp hội thống kê Mỹ. Hiệp hội này làm rõ sự kết nối giữa sự phát triển của y tế cộng đồng như một lĩnh vực riêng và sự gia tăng các phân tích về xã hội đô thị. Đáp ứng lại sự đồng thuận ngày càng tăng của giới khoa học, năm 1866 thành phố New York đã thông qua điều luật sức khoẻ cộng đồng có hệ thống đầu tiên, căn cứ vào những dữ liệu thu được trong một cuộc điều tra từng khu nhà. Điều luật này đã giúp cắt giảm tới 90% tỉ lệ tử vong khi dịch tả bùng phát so với tình trạng nếu như điều luật này chưa ra đời..

Nước và Hệ Thống Nước Thải

Nước là biện pháp được người ta nghĩ tới để chống lại tình trạng mất vệ sinh và hoả hoạn. Philadelphia đã khai trương các công trình nước đầu tiên của thành phố vào năm 1801, chủ yếu là nhằm rửa đường và chống hoả hoạn. Boston cũng tiến về hướng tây vì nước, còn New York thì tiến về phía Bắc, khai trương công trình nước Croton Aqueduct từ hạt Westchester tới Manhanttan năm 1842 trong một lễ khánh thành rất lớn. Chicago, nơi không hề có lấy một dòng suối nào để có thể lấy nước, đã kéo dài hàng dặm đường ống tới Hồ Michigan để lấy nước sạch không bị ô nhiễm từ dòng chảy từ thành phố. Ban đầu các hệ thống nước thuộc các hạt này được thiết kế vì mục đích công cộng, nhưng cho tới những năm 1860 và 1870, các hệ thống nước này đã bắt đầu phục vụ nhu cầu của các hộ gia đình như nấu nướng, tắm giặt và cả thiết bị vệ sinh giật nước mới được sử dụng rộng rãi. Tới những thập kỉ sau của thế kỉ 19, các ngôi nhà và căn hộ mới đều được xây dựng có phòng tắm riêng, sử dụng nguồn nước của thành phố.

Tuy nhiên, giải pháp để giải quyết một vấn đề thường tạo ra vấn đề khác. Việc tăng cường sử dụng nước cũng không phải là ngoại lệ. Nước chảy quá tự do vào các hộ gia đình, những cơ sở kinh doanh thì cũng phải chảy ra, và tất nhiên, lượng nước ra đã bị ô nhiễm từ rất nhiều chất thải khác nhau. Điều đó có nghĩa là các thành phố cần phải có các hệ thống cống rãnh. Bài học từ những nỗ lực tiên phong của các thành phố châu Âu như Hamburg và London đã cho thấy giải pháp chung là một hệ thống nối liền thoát nước cho cả đường phố và các toà nhà. Ban đầu hầu hết các thành phố dựa vào độ dốc để thoát nước, nhưng ở Chicago quá bằng phẳng. Vì nhờ đã quen làm việc lớn từ những năm 1860, các quan chức của thành phố Chicago đã thông qua đề xuất của Ellis Chesbrough nâng toàn bộ thành phố lên, để các cống rãnh ngay trên hoặc dưới bề mặt, bao phủ hệ thống cống rãnh này và lấp đầy xung quanh chúng. Các toà nhà mới được dựng lên theo độ cao nền mới; các toà nhà cũ hoặc chuyển lớp nền cũ thành tầng hầm hoặc nâng toàn bộ kiến trúc. Bản thiết kế hệ thống thoát nước toàn vùng đầu tiên là Hệ thống cống rãnh của vùng đô thị Boston năm 1875.

image
Hình 1: Sơ đồ xử lý nước thải – nguồn http://www.ccc.govt.nz/WasteWater/TreatmentPlant/FlowDiagram.asp

Cầu và Đường

Giao thông vẫn gây ra một số vấn đề kĩ thuật. Các con đường đầu tiên của thành phố là đường đất, đôi khi được rải sỏi, nhưng gần như luôn bốc mùi hôi thối do chất thải động vật và rác rưởi ở những vũng nước tù đọng. Thậm chí với các hệ thống thoát nước điều áp, các bề mặt mềm vẫn không thể sạch được. Trong suốt các thập niên giữa thế kỉ 19, các thành phố đã tiến hành xây dựng thử nghiệm lát đường bằng các khối gỗ, đá sỏi, đá dăm và nhựa đường.

Các kĩ sư khác cũng thử tìm cách nối liền các con sông, nơi thường có các thành phố, tạo thành những công trình kỉ niệm như Cầu Cincinati-Covington bắc qua sông Ohio (1867), cầu Eads bắc qua sông Missiippi ở St.Louis (1874) và cầu Brooklyn bắc qua sông Đông giữa Brooklyn và thành phố New York (1887).

Kỹ Thuật và Quy Hoạch

Kết hợp cùng nhau, các nỗ lực thiết kế và xây dựng hạ tầng đô thị có tác động mạnh mẽ đến sự hình thành của các thành phố ở Mỹ. Các kĩ sư- những người bắt đầu xây dựng và quản lý một loạt các dự án công trình công cộng đô thị như hệ thống cấp nước, cống rãnh, đường phố, cầu, các tiện nghi công viên- được coi là những nhà quy hoạch thành phố đầu tiên. Cùng với các kiến trúc sư phong cảnh và các nhà thiết kế công viên, họ là một trong số những người đầu tiên suy nghĩ một cách toàn diện về hình mẫu phát triển tương lai và các tiện nghi cần thiết để phục vụ cho sự phát triển đó. Công việc của họ đã mở đường cho việc phát triển quy hoạch sử dụng đất như là một chuyên ngành liên quan và tạo điều kiện thuận lợi cho sự đan xen tiếp tục giữa kĩ thuật dân dụng và quy hoạch với các vấn đề như bảo vệ môi trường và giao thông.

Tham khảo
Quy hoạch các tiện nghi phục vụ cộng đồng
Xử lý nước thải
Cung cấp nước