Các phong trào quy hoạch – P1: Truyền thống cảnh quan

112

Được sự đồng ý của anh Dương, admin của kienviet.com, chúng tôi xin đăng lại một số bài về quy hoạch trên trang, nhằm tạo điều kiện để anh em KTS trao đổi. Hiện anh Dương là mod của box Quy hoạch trên trang Kienviet.Net. Cảm ơn sự đóng góp nhiệt tình của anh nói riêng và các anh em KTS nói chung:

CÁC PHONG TRÀO QUY HOẠCH

Nguồn: “Urban Planning and Design Standards”
Tác Giả: Carl Abott, Ph.D., Portland State University, Portland, Oregon
Người Dịch: N.A.L.

1. TRUYỀN THỐNG CẢNH QUAN

Frederick Law Olmsted

Học thuyết đầu tiên của Mỹ về quy hoạch đô thị ra đời từ việc quy hoạch cảnh quan và thiết kế công viên vào nửa sau thế kỉ 19. Frederick Law Olmsted, một nhân vật nổi bật, lập luận rằng, sự phát triển của thành phố là điều tất yếu và mang lại lợi ích cho xã hội, và việc kết hợp công viên, cảnh quan thiên nhiên vào cấu trúc đô thị có thể giúp giảm nhiều ảnh hưởng tiêu cực mà sự phát triển của đô thị gây ra. Giống như nhiều trí thức Mỹ vào thời điểm đó như Ralph Waldo Emerson và Henry Đavi Thoreau, Olmsted đánh giá cao vai trò của thiên nhiên. Ông hy vọng, việc ứng dụng mang tính sáng tạo trong thực hành kiến trúc phong cảnh có thể giảm bớt áp lực ở các thành phố đông dân và thúc đẩy tính thân thiện, trong sáng trong các mối quan hệ xã hội.

Olmsted đã áp dụng lý thuyết của mình vào thực tế ở Công Viên Trung Tâm của thành phố New York (Central Park-NY- h.1) do ông cùng với Calvert thiết kế. Với ý đồ cho phép mọi người thoát khỏi thành phố, bản thiết kế năm 1857 cho tới nay vẫn là bản thiết kế phong cảnh mang tính kinh điển. Sau đó, Olmsted đã thiết kế nhiều công viên lớn ở nhiều thành phố, bao gồm Mount Royal ở Montreal, Belle Isle ở Detroit và Prospect ở Brooklyn. Tránh xa các yếu tố, chuẩn mực chính thống và đối xứng, Olmsted sử dụng những đồng cỏ uốn cong, các hồ nước có hình dáng tự do, và những lối đi quanh co để tạo ra cảm giác đồng quê trong thành phố.

image
Hình 1: Central Park – NY

Mặc dù không thể thuê được Olmsted, song vào những thập niên cuối của thế kỉ 19 hầu hết các thành phố ở Mỹ đều đã dành ra một diện tích đất khá lớn để làm công viên. Một số công viên quan trọng như Piedmont ở Atlanta, Balboa ở San Diego và Forest ở St.Louis đã được phát triển thành các địa điểm cho các cuộc triển lãm, hội chợ và sau đó tái tạo để tiếp tục phục vụ cộng đồng.

Quy hoạch công viên

Với sự dẫn đầu bởi Olmsted, việc phát triển công viên đã đưa người Mỹ tới việc quy hoạch mang tính hệ thống viên ở cấp độ vùng. Các nhà lãnh đạo địa phương nhận ra rằng, để có được những dải công viên rộng, họ có thể mua đất ở các vùng xa xôi của thành phố, kết nối chúng bằng các con đường với hai hàng cây và những đại lộ. Vào những năm 1870, Chicago đã quy hoạch một loạt các công viên ngay gần hồ và sâu trong thành phố và đi kèm với những đại lộ nỗi liền các công viên này. H.W.S. Cleveland, tác giả cuốn “Landscape Design as Applied to the Wants of the West” (1873), đã thiết kế một hệ thống hoàn chỉnh tương tự cho Minnepolis và St.Paul vào những năm 1880; George Kessler thiết kế cho thành phố Kansas vào những 1890s và các hệ thống công viên ở Dallas và Houston và những năm đầu của thế kỉ 20; và John Olmsted thiết kế cho Portland, Oregon những năm 1900. Thành công rực rỡ nhất trong trường phái này là việc quy hoạch hệ thống công viên (Emerald Necklace – h.2) cho Boston và các khu vực liền kề, do Uỷ ban Công viên Vùng Đô Thị dưới sự lãnh đạo của Charles Eliot (thành lập năm 1893) quy hoạch. Hệ thống này bao gồm các bản quy hoạch của Olmsted cho Fenway và cho tới năm 1902 đã phủ một diện tích rộng 15 nghìn mẫu, 10 dặm đường nước và 22 dặm đại lộ có cây hai bên.

image
Hình 2: Boston Emerald Necklace – một phần trong hệ thống công viên vùng đô thị Boston

Các hệ thống công viên cấp vùng trong những năm đầu thế kỉ 20 như Cook County, Illinois, Forest Preserve và Denver ở Colorado, các công viên núi đã mở rộng việc thiết kế không gian mở cáp vùng sang thời đại của ô tô. Các hệ thống công viên cũng là những phần xuất hiện thường xuyên trong các bản quy hoạch “thành phố đẹp” được thực hiện bởi Daniel Burnham, Edward Bennett và các kiến trúc sư khác. Tất các quy hoạch như vậy đều đòi hỏi các nhà lãnh đạo địa phương suy nghĩ về sự tăng trưởng dân số trong tương lai, về việc sử dụng đất, việc lưu thông ở cấp vùng và thu mua đất trước khi cần dùng (thường là nên chọn các khu vực mà hiện nay chúng ta thường coi là những khu vực nhạy cảm về môi trường như đồi dốc, đầm lầy, vùng đất quanh hồ và dòng chảy của suối).

Tổng hợp lại, có một vài nguyên tắc mang tính hướng dẫn cho các nhà quy hoạch công viên mới

– Thích ứng các yếu tố thiết kế với cảnh quan tự nhiên
– Tạo ra một “vùng nông thông” hơn là một cảnh quan chính thống
– Những dải công viên rộng có tầm quan trọng trong việc tạo cảm giác thoát khỏi thành thị
– Thiết kế hệ thống toàn thành phố bao gồm các công viên rộng được nối liền bằng các đại lộ, đường với giải cây xanh
– Nhận thức rõ giá trị của việc thu/mua/giữ đất công viên trước sự tăng trưởng mở hơn của thành phố.

Các vùng ngoại ô được quy hoạch

Olmsted cũng là một nhân vật trọng yếu trong sự phát triển của các vùng ngoại ô cao cấp được quy hoạch theo phong cách “lãng mạn” hay “giống như tranh vẽ”. Hệ thống đường tàu vận hành thường xuyên ra đời ở các thành phố lớn trong những năm 1850 đã giúp các tầng lớp thượng lưu có cơ hội sống trong các cộng đồng mới với mật độ dân số thấp ở bên ngoài những thành phố đông đúc. Một số khu vực ngoại ô thành lập đầu tiên gần đường tàu là các khu với hệ đường chạy thẳng cắt qua các làng nông thôn trước đó. Tuy nhiên, các khu ngoại ô khác lại được thiết kế một cách có ý thức theo truyền thống “tạo công viên” với những lô đất rộng, những đường dạo, và các con phố ngoằn nghèo thích ứng với cảnh quan. Những khu ngoại ô như vậy sớm xuất hiện từ những năm 1850 bao gồm Llewellyn Park, New Jersey và Lake Forest, Illinois. “Khu đơn vị ở ngoại ô kiểu mẫu” mang tính kinh điển được Olmsted thiết kế năm 1868 cho Riverside, Illinois, rộng 1600 mẫu dọc sông Des Plaines, cách Chicago 11 dặm về phía Tây. Mục tiêu là nhằm tạo ra một quảng cảnh thôn quê, trong đó các con đường và cây cối tạo ra một “sự thuần khiết, tĩnh lặng riêng biệt”.

Các yếu tố thiết kế của các “khu ngoại ô lãng mạn” vẫn là phần quan trọng trong ngôn ngữ quy hoạch ngoại ô, có nhiều điểm chung với các mục tiêu nâng cao nhận thức mang tính xã hội của trường phái Thành phố Vườn (Garden City). Sự phát triển nổi bật các khu dân cư hay ngoại ô, với việc cung cấp dịch vụ bán lẻ, trường học và nhà thờ đã đặc biệt nở rộ vào cuối thế kí 19, ví dụ như Chestnut Hill ở Philadelphia, Roland Park ở Baltimore và Inman Park ở Atlanta. Đầu thế kỉ 20 cũng có một loạt các công trình như vậy như Shaker Heights gần Cleveland và Quận Country Club của thành phố Kansas. Mặc dù nhiều quận này đã được sát nhập vào trung tâm thành phố, song vẫn có thể dễ dàng nhận diện sắc thái của trường phái kiến trúc quy hoạch lãng mạn với những con đường cong ngắt quãng các đường ngang dọc kẻ ô.

Tham khảo
Cleveland, H.W.S.1873. Landscape Design as Applied to the Wants of the West. Armherst, MA: University of Massachusetts Press.
Cranz, Galen. 1982, The Politics of Park Design: A History of Urban Parks in America. Cambridge, MA: MIT Press.
Rogers, Elizabeth Barlow. 1972, Frederick Law Olmsted’s New York, New York: Praeger, in association with the Whitney Museum of American Art.
Roper, Laura Wood. 1973, FLO: A Biography of Frederick Law Olmsted. Baltimore, MD: Jonhs Hopkins University Press.
Rosenweig, Roy, Elizabeth Blackmar. 1992. The Park and the People: A history of Central park. Ithaca, NY: Cornell University Press.
Schuyler, David. 1986, The New Urban Landscape Redefinition of City Form in Nineteenth-Century America. Baltimore, MD: Johns Hopkins University Press.
Scott, Mel. 1969. American City Planning since 1890: A History of Commemorating the fiftieth anniversary of the American Institute of Planners. Berkerly, CA: University of California Press.
Urban Planning and Land Policies. Volume II of Supplementary Report of the Urbanism Committee to the National Resources Committee. 1939. Washington, Dc: US. Government Printing Office.