Tòa nhà hội đồng thành phố Chester

50

1. Giới thiệu dự án.

1.1

Công trình dưới đây và những thuyết minh thiết kế đô thị bổ trợ cho nhau trong một dự án quy hoạch được tiến hành bởi ING Real Estate Developments UK Ltd cho Hội đồng thành phố Chester (CCC) nhằm phát triển một tòa nhà văn phòng hạng A3 và một tầng hầm đỗ xe cho tòa nhà.

1.2 Hội đồng tư vấn

Phương án thiết kế là sản phẩm của tập hợp nhóm Quản lý phát triển thành phố, các nhà khảo cổ học, Giáo hội Anh, CABE và Hội đồng quản hạt Cheshire (Giao thông và Vận tải). Cuộc trao đổi giữa các nhân viên của nhóm quản lý phát triển thành phố dựa trên các tài liệu của CCC “Tóm lược phát triển khu Gorse Stacks– Bản thảo’ [GDSB]” tháng 12 năm 2002. Văn bản này có hiệu lực từ tháng 11 năm 2002 bởi một số ủy ban và đại diện các cấp trong hội đồng thành phố.

1.3 Vị trí

Ví trí khu đất được xác định tại số 12 trên GSDB (figure 4: vị trí thích hợp ). Nó tọa lạc tại giao điểm nổi bật giữa phía bắc đường St Oswald (Ring Road A56), phố Frodsham (cầu Cow Lane), phố George và Gorse Stacks. Nó được bao phía tây bắc bởi con phố cũ William. Khu đất hiện đang được sử dụng làm bãi đỗ xe cho 150 xe.


[Ảnh 1: Vị trí dự kiến đặt công trình ; 2: Nhà thờ lớn; 3: Tòa thị chính cũ ;4: Bức tường thành phố]

1.4 Xin phép quy hoạch:

Nhà triển khai dự án miêu tả “tiến trình xây dựng của công trình bao gồm: khu đỗ xe cho tòa nhà và cho cộng đồng , nhà hàng (hạng A3) và một không gian công cộng tại mặt phố , cải tạo đường vào cho bãi đỗ xe”
Công trình tương lai và khu đất là những vị trí xác định của GSDB đã được quy hoạch. Thông qua cách trả khoản vay thế chấp của các dự án bất động sản liền kề dựa trên các nguyên tắc của GSDB.


[Ảnh trên: Góc nhìn phía tây khu Gorse Stacks]


[Ảnh trên: góc nhìn phía đông khu St. Oswalds Way]

1.5 Phân khu:

Khu văn phòng: tổng diện tích trong lòng 7,926 m2 , khu A3: tổng diện tích trong lòng 500 sqm; Khu đỗ xe: 110 chỗ [gia 2,927m2]

1.6 Trình tự phát triển

Khu văn phòng và khu đỗ xe được tiến hành cùng một lúc, khu đỗ xe được đưa vào vận hành trước 3 tháng so với khu văn phòng và giai đoạn kết thúc của công việc dọn dẹp thi công liên quan. Việc thi công cần được xong trước ,theo như sự cho phép của các yêu cầu nhà thầu kèm theo, bắt đầu vào tháng 10 năm 2004.

1.7 Nhà thầu

Những nhà thầu cung cấp tòa nhà với tư cách của Hội đồng thành phố Chester (CCC) như là một phần của thảo thuận phát triển liên quan tới việc phát triển khu vực Northgate tại trung tâm thành phố. Những cấu trúc tuân theo những thỏa thuận được yêu cầu thay thế khu văn phòng hội đồng chỉ tỏng khu vực phát triển Northgate và cũng thay thế khu vực đỗ xe công cộng sẵn có trong địa điểm xây dựng.


[Ảnh trên: Góc nhìn dự kiến từ tầng 3 của tòa nhà]

1.8 Văn bản và các hướng dẫn chính sách liên quan

Văn bản cơ cấu nòng cốt của vị trí khu đất là văn bản CCC “Tóm lược phát triển khu Gorse Stacks– Bản thảo” [GDSB] tháng 12 năm 2002. Trong khi đó bản thảo hiện hành thì tuân theo sự trưng cầu và sự bổ xung, tất cả các yêu cầu trong các mục tóm tắt được xác định sử dụng các yêu cầu trong đó nhằm tương thích với những yêu cầu của quy hoạch khu vực.
Nền tảng chính sách đối với GDSB được chỉ ra bằng văn bản: URBREN1, URBREN 2 (như là phần bổ xung của Quy hoạch các quận của Chester); ‘bằng thiết kế. Thiết kế đô thị trong hệ thống quy hoạch: Thẳng tiến tới thực tiến tốt đẹp hơn.’ DETR [giờ là ODPM] và Nhiệm vụ của Kiến trúc và Môi trường đô thị [CABE] (tháng 5 năm 2002).
Những phương án cho khu vực đõ xe và phục vụ văn phòng đã được phát triển phù hợp với Quy hoạch giao thông khu vực Cheshire.
Với tư cách là người khai thác tòa nhà văn phòng, Hội đồng thành phố đã xác định rõ vị trí hợp lý của phương án trong nội dung của văn bản: Quy hoạch trung tâm cộng đồng Chester.

1.9 Miêu tả dự án:

Những trình bày của thiết kế được đọc chung với các bản vẽ được đẹ trình bởi các đại diện (Ian Simpson Architects Ltd) và 1 bản phân tích tiếng ồn theo PPG24 được chuẩn bị bởi AEC (Acoustic and Engineering Consultants Ltd) tháng 11 năm 2003; một bản thuyết minh giao thông hỗ trợ (gửi kèm quy hoạch di chuyển của Hội đồng thành phố ) được chuẩn bị bởi Buchanan Consulting Engineers, tháng 11 năm 2003.

Một bản báo cáo khảo cổ học khu vực được chuẩn bị bởi Earthworks Archaeological Services tháng 11 năm 2002; chấp vào văn bản này là một đề xuất được chuẩn bị vào tháng 3 năm 2003 để đánh giá các ưu tiên lớp để tiến hành đào đắp tạo hình bãi đỗ xe.

Ban quản lý phát triển của Hội đồng thành phố không yêu cầu phải tiến hành lập Bản đánh giá tác động môi trường và những văn bản khác.

2. Khu đất

2.1

Khu đất tiến hành xây dựng rộng 5086 m2 (0.51 hecta). Nó nằm tại chỗ giao nhau nổi bật của phía bắc đường vành đai của St Oswald, phố Frodsham (cầu Cow Lane), phố George và Gorse Stacks. Nó được bao bọc phía đông bắc bởi đường thẳng tạo bởi phố William cũ. Vị tí này hiện tại đang được sử dụng như bãi đỗ xe công cộng lộ thiên sức chứa 150 xe.

2.2

Nó hoàn toàn nằm trong khu vực bảo tồn nhưng sự tiến hành không hề kéo theo sự phá hoại những cấu trúc hiện có. Vị trí khu đất đối diện (tại phiá cuối tây bắc) dốc 2 số 22 và 24 phố George và (tại cuối đường cắt ngang phí đông của bùng binh đường vành đai) dốc 2 tại Câu lạc bộ xã hội Thiên chúa giáo tại tây nam cuối phố Brook. Thêm vào đó nữa là khu đất lại gần với Bức tường thành phố và tháp Vua Charles (Phượng hoàng hay còn gọi là vòng tròn). Sự phát triển của dự án này có thể tác động đến khoảng cách, những góc nhìn của đường chân trời thành phố.

2.3

Vị trí chiến lược: vị trí này là một nút quan trọng đối với phía đông bắc của trung tâm thành phố, tọa lạc tại giao điểm của một số con đường lớn và đóng vai trò như là cửa ngõ của trung tâm thành phố, nằm ngay phía ngoài những hàng rào phòng thủ nổi tiếng của thành phố.

2.4

Địa điểm lịch sử và vai trò của khu đất: vai trò của khu đất được ghi nhận sớm nhất có lẽ là một thao trường hay nơi duyệt binh của thành phố Roman. Khu đất được bỏ trống cho tới tận khi tiến hành xây dựng một khu chợ gia súc vào thế kỉ 19. theo như những người Roman, khu đất được coi như là điểm giao nhau tự nhiên phía ngoài những bức tường thành của thành phố trên lộ trình thương mại chính, khu đất đã từng được sử dụng cho việc thương mại (tại Gorse) và cho canh tác quy mô nhỏ. Những khu vườn kết hợp chợ được đề cập đến trong suốt cuộc Nội chiến. trong suốt cuộc chiến này khu đất được bao bọc tạm bằng thành đất.

Khu đất dần dần bao bọc bởi tường thành và phát triển. Tới cuối năm 1960 khu chợ gia súc và nhà ở bị phá hủy khi tiến hành xây dựng đường vành đai. Và khu đất trở thành bãi đõ xe như ngày nay.

Tính liên tục lịch sử của khu đất được ví như là điểm giao thoa kết nối thành thành phố đã mất do quá trình xây dựng đường vành đai và mở rộng Gorse Stacks (con đường). Những đề xuất tới gần ý nghĩa nổi tiếng của khu đất và tìm kiếm cách để “đính” công trình và các không gian công cộng liên quan của nó trở lại với bối cảnh đô thị của thành phố.

Những bản sao của bản đồ từ các giai đoạn phát triển chính của thành phố đã được đính kèm trong bản báo cáo này.

2.5
Đáp ứng lại cấu trúc lịch sử của công trình: Hội đồng thành phố chuẩn bị một văn bản vào năm 2002 gọi là ‘Lodis’ (Địa điểm đặc biệt – Local Distinctiveness). Văn bản này định nghĩa tất cả các thuộc tính đặc biệt cho thành phố nhằm hỗ trợ sự phát triển và thăng tiến của thành phố. Văn bản định nghĩa mọi cấu trúc đô thị trong thành phố được xác định bởi chỉ giới đỏ bằng các viên đá sa thạch vuông. Các cấu trúc đó là: những bức tường thành phố, nhà thờ, lâu đài và các thành phần hiện trạng của tòa thị chính.

Bức tường thành phố trên mặt cắt và mặt bằng thể hiện là người dẫn dắt chính cho thiết kế và bố trí mặt bằng của công trình mới. Bằng cách tiếp nối đường thẳng của bức tường thành phố phía bắc cắt ngang khu đất và lặp lại mặt bằng của góc bức tường thành, hình dáng của quá trình đó giúp xác định cạnh phía bắc của công trình tới đường vành đai. Những mặt cắt cảu bức tường lịch sử, những mẫu gạch và mô hình của những thay đổi về hướng đều nhắc tới hình dáng của công trình mới.

2.6

Khảo cổ học: những báo cáo đính kèm của Earthworks Archaeological Services vào tháng 11 năm 2002 xác định rằng phần lớn khu đất là thuộc diện tiềm năng khảo cổ thấp. Điều đó không có nghĩa là khảo cổ học trong khu vực này ít được coi trọng trong suốt quá trình xây dựng. Cơ hội được khai quật 25 % của khu đất ưu tiên tỏng quá trình xây dựng của bãi đỗ xe sẽ đem lại cho các nhà khảo cổ học thành phố một cơ hội hiếm có dể khám phá những bằng chứng còn lại của một điểm hội họp công cộng và trung tâm thương mại phía ngoài của bức tường thành.

Những dịch vụ hiện có đi ngang qua khu đất dọc theo những tuyến của những con phố đã biến mất (ví dụ như là phố Gorse ). Những dịch vụ này sẽ cần được chuyển hướng khỏi bãi đỗ xe và những công tác khác (bao gồm những thành phần của bãi đỗ xe) sẽ kéo theo gây xáo động những lớp bối cảnh xác định trong bản báo cáo đính kèm như là tiềm năng ‘trung bình’ huặc ‘cao’. Độ sâu của các dịch vụ này sẽ chỉ được xác định tại giai đoạn bắt đầu của quá trình khai quật khảo cổ. Tuy nhiên, rất có khả năng là đường cáp chính sẽ nằm ở độ sâu 375 mm và cáp điện của Dee Valley nằm ở độ sâu 900 mm. Những tầng cao đó đều nằm trên “lớp bối cảnh” được tìm thấy trong cuộc khảo sát năm 2002. Thêm vào đó nữa là lộ trình dự kiến của những tuyến dịch vụ sẽ chạy trong 1 khu vực của khu đất trước đó là phố với nhà ở.

Phát triển thiết kế của tòa nhà văn phòng và khu đỗ xe có sự tham gia của nhà thầu tư vấn khảo cổ học (Tom Hassall), nhà khảo cổ học thành phố và giáo hội Anh.
Mọi đánh giá và yêu cầu được lập bởi nhóm trên trong quá trình tư vấn là phương tiện để phát triển qui mô và hình dáng của phương án đệ trình.

2.7

Những góc nhìn ngoạn mục: GSDB xác định những yêu cầu nhằm tôn trọng các góc nhìn ngoạn mục của chân trời nổi tiếng lịch sử của thành phố khi nhìn từ Hoole Way. Bản vẽ 7006/025 tổng kết những kết luận của nghiên cứu về những góc nhìn giới hạn (sightlines) đạt được sự đồng ý của Giáo hội Anh và Hội đồng thành phố. GSDB gợi ý rằng một cao điểm chủ chốt của sự phát triển dự kiến trong khu đất nên được đạt tại góc đông nam (nơi giao điểm với phố Frodsham). Những thiết kế sơ bộ hướng tới yêu cầu này nhưng trong quá trình thử nghiệm và khớp với góc nhìn giới hạn, rõ ràng là góc nhìn đẹp chính của tòa thánh đường có thể bị hủy hoại bởi hướng tiếp cận này. Thiết kế liền thay đổ để chuyển cao điểm tại vị trí tây bắc của khu đất. Từ điểm này, nới mà những phòng họp của hội đồng TP sẽ được bố trí , sẽ có những góc nhìn ngang qua thành phố lịch sử. Công trình , tại cuối đông nam, sẽ không có quá 2 tầng cao. Và hình dáng kết quả công trình, hình dáng mặt bằng được bẻ nghiêng xác định dưới 2.5, cho phép bên trong (mặt đứng hướng nam) tạo nên hình dáng vòng quanh một không gian công cộng mới.

Những nguyên tắc đồng ý cho những góc nhìn ngoạn mục là:

• Người đi bộ phải nhìn thấy mái của tòa thánh đường và tuyến cây xanh của bức tường thành khi di chuyển theo hướng tây nam trên đường Hoole Road tới Hoole Way.

• Tòa thị chính phải được nhìn thấy trên cùng một lộ trình, tuy nhiên theo như trên bản vẽ, nhìn chung là việc một ai đó nhìn thấy 1 huặc những điểm nhấn khác tại cùng một thời điểm thì phục thuộc vào mặt của con đường mà người đi bộ ở đó.

• Giáo hội Anh yêu cầu xác định tác động thích hợp của công trình khi nhìn từ cầu Northgate và những bức tường thành.

• Những góc nhìn từ đường vành đai vẫn được coi là không ấn tượng và phải thừa nhận rằng công trình dự kiến sẽ cải thiện những góc nhìn từ con đường.

3. Bản tóm lược:

3.1

Bản tóm lược của người sử dụng cuối: Hội đồng thành phố xác định yêu cầu để tạo nên một công trình văn phòng mới như trong văn bản được chuẩn bị bởi các nàh tư vấn và thành phố. Bản tóm lược của công trình được phát triển sau đó với sự tham khảo ý kiến của GSDB. Vị trí dự kiến, tính chất và đặc tính của dự án được định nghĩa theo thứ tự của sự bổ nhiệm cá nhà thiết kế của nhà thầu.

Bản tóm lược được phát triển như là một phần của Những đề xuất phát triển của Northgate. Là kết quả của quá trình đánh giá vị trí một số khu đất có tiềm năng khác xắp đặt trong khu Gorse Stacks (site 12) vào năm 2002.

Bản tóm lược sau đó được thông qua bởi Hội đồng vào tháng 4 năm 2004 và bao gồm những hướng dẫn rõ ràng cho thiết kế của công trình cũng như bản tóm tắt sơ lược của tất cả những yêu cầu các ban của hội đồng TP:

Hội đồng yêu cầu tòa nhà văn phòng của họ sẽ là:

• Chào đón – mọi người đều muốn vào trong tòa nhà.
• Thuận tiện cho các vị khách.
• Trong suốt vào tạo cảm giác mở
• Hào nhoáng, nổi bật, một công trình điểm nhấn.
• Một thiết kế đương đại – phản ánh một tổ chức hướng tới sự hiện đại.
• Dễ dàng tiếp cận.
• Màu sắc và đầy sức sống
• Một trung tâm cộng đồng.

*3.2 *

GDSB: yêu cầu cho site 12 (trang 12) là công trình ‘nên tạo nên khoảnh sân trống lớn cho đường vành đai, phố Williams, Gorse Stacks và cầu Cow Lane’ Mục đích sử dụng cho khu đất được xác định trong GSDB. Văn bản đồng thời cũng xác định nhu cầu của công trình trong việc đảm nhiệm vai trò của nó thông qua một số thành phần liên đới tới khu đất bao gồm việc đề cao của:

• Không gian đi bộ xung quanh ‘quảng trường Chiến thắng’ (phái trước của quán rượu Ship Victory và cầu Cow Lane )
• Một đường phố năng động kết nối phố Northgate và Frodsham dọc theo phố George và Gorse Stack (6.8.1 trang 24)
• Cấu trúc giao thông hiện trạng bằng cách thay thế tất cả bãi đỗ xe ngoài trời hiện có parks (6.9.2 trang 24)
• George Street và Gorse Stacks như một lộ trình đi bộ và xe đạp thân thiện (tr 25)
• Cấu trúc không gian mở bằng cách cải thiện đường đi bộ cát ngang đường vành đai (6.11.1 tr 27)

Bản tóm lược đồng thời cũng yêu cầu những chính sách cho khu vực công cộng và nghệ thuật công cộng (6.13 tr 32). Các ứng dụng xác định một công trình kiểu mẫu và đầy tính điêu khắc nhằm hướng tới yêu cầu này. Tuy nhiên, với một số tác phấm của một số nhà thiết kế tại Chester và Manchester, nó cho thấy có một khối lượng tác phẩm của 1 họa sỹ hay một số các họa sỹ thực hiên trong bối cảnh thiết kế của công trình và các thành phần liên quan. Nhà thầu có ý định chỉ định một họa sỹ để làm việc cùng nhóm dự án dưới hệ thống “Nghệ thuật trong Kiến trúc” của RSA. Nhiệm vụ như vậy có thể là một gói công việc (một nhiệm vụ ) huặc cũng là một sự chuyển đổi của một thành phần của đề xuất hiện tại trong tiến trình thiết kế chi tiết. Một tiến trình đã được phê duyệt bởi RSA nhằm đạt được tham vọng thực sự của nghệ thuật trong kiến trúc.

3.3

Mối quan hệ giữa các công trình dự kiến liền kề: một nhóm khác bao gồm đội thiết kế và các nhà phát triển dự án đang tiến hành dự án khu đất Ship Victory (Site 11). Trong khi nhóm làm việc đó cũng được tư vấn thì phương án thiết kế của họ vẫn không được xem xét bởi các nhà thầu. Bởi vậy sự sắp xếp đó phản ánh các nguyên tắc của GSDB theo cách họ áp dụng cho Site 11: cụ thể là lưu giữ được tuyến công trình nhà ở công cộng, tiếp cận được quảng trường Oulton để bảo dưỡng và sự công nhận tầm quan trọng của thiết kế đô thị của góc đông nam của Ship Victory

4. Phương án thiết kế và lý luận

4.1 Phát triển thiết kế:

4.1.1

Khoản 2 ở trên định nghĩa các điều khoản bắt buộc của khu đất bối cảnh mà giúp xác định hình dáng mặt bằng và tính chất của công trình. Khoản 3.1 ở trên thì tóm tắt lại ý nghĩa ẩn sâu của công trình. Khối tích của công trình được quyết định trước bằng cách yêu cầu khả năng chứa gần 500 nhân viên và thành viên cũng như cho phép mọi sự tiếp cận công cộng.

4.1.2

Thiết kế có thể được nhìn nhận như một khách thể công trình, ví dụ như là một dạng tượng đài trên một (hay trong một) khu đất. Tuy nhiên, bằng cách tham khảo Khoản 2 ở trên, mọi người có thể hiểu cách mà thiết kế được sáng tạo trong bối cảnh đô thị hiện trạng để tạo nên những không gian mới và các tuyến phố. Bối cảnh ngữ học (Contextualism) trong thiết kế không thể coi là một liên kết về mặt ngôn ngữ để kết nối những công trình hay sự mô phỏng các thành phần ngôn ngữ địa phương. Xa hơn, nó phải được coi là một sự biểu đạt một đáp án về mặt trực giác đối với bản chất của Bản tóm lược (một cấu trúc đô thị mới) và cả đối với thành phố.

4.1.3

Những thông tin tóm tắt về những hình dạng lịch sử, chi tiết và vật liệu cung cấp một điểm bắt đầu. Tuy nhiên, giải pháp và cách diễn đạt của họ trong chuỗi haotj động lại được phát triển thông qua 3 nghiên cứu mô hình vật lý 3 chiều cũng như những phác thảo về yêu cầu không gian của bản Tóm lược được trình bày trên hình dạng của mặt bằng


p(tac).

.
4.1.4

Vật liệu của công trình được tổng kết trong bản vẽ 7006/016. Tòa nhà văn phòng Hội đồng dự kiến có một lóp vỏ phần lớn là kính. Điều này giúp cho nội thất tòa nhà nhậ được tối đa ánh sáng cũng như thảo mãn được các yêu cầu của chính quyền về “sự trong sáng” của chính quyền địa phương.
Công trình cũng cần có bóng râm và tính riêng tư. Kĩ thuật để đạt được những yêu cầu đó là “nung kết” (fritting) các tấm kính. Đây là một dạng sơn gốm nung trên bề mặt kính. Nó được áp dụng để tạo nên một số kiểu dáng (pattern) và mật độ để mô phỏng lại những vật liệu cổ xưa của thành phố.

Lâu đài, những bức tường thành phố, tòa thánh đường và các chi tiết trên tòa thị chính đều được làm từ đá sa thạch đỏ. Màu sắc của chúng lại không đồng bộ. những loại đá sa thạch hiện đại lại làm đồng dạng (“chối bỏ” sự tự do) những diện sàn. Lớp phủ ngoài của công trình đô thị mới được thiết kế để phản xạ lại tính đa dạng của màu sắc, kết cấu bề mặt và kích thước vẫn được tìm thấy trên các công trình lịch sử. Bằng cách sử dụng một số lượng có giới hạn các tấm kính tiêu chuẩn và các tấm kính được “nung kết” theo một vài cách tổ hợp khác nhau, sự mẫu mực của các công trình lịch sử được ham khảo dển thay vì phải viện đến việc cóp nhặt lại hay bọc bằng một lớp đá mỏng. Vỏ kính được thi công từ 2 lớp: tấm ngoài cùng được bảo đảm bởi một bộ khung nhôm. Bởi vậy bộ khung rõ ràng là không hoàn toàn giống với những bức tường với khung cửa sổ kiểu truyền thống mà sẽ được nhìn xuyên qua các vùng có lắp kính.

Phần mái được trổ của mái từng phần và những tấm panel “sandwich” đều có màu sắc nhôm để phản xạ lại những mẫu tường. những lớp tường kính boc ngoài mái hiên làm bờ cho khu vực kết cấu của những bức tường ngoài cùng. Máng xối được giấu sau những phần kính bẻ ngược lại. diện mạo tổng thể của công trình tạo nên sự tương đương với địa chất khu vực lộ ra dọc côn kênh bên cạnh khu đất.

4.1.5

Phần ngoại thất: phần lát gạch phí trước công trình như là một phần tiếp nối của hình ảnh bức tường thành (phố) trên hệ thống kính. Lựa chọn đá và loại đá sẽ phải được phê duyệt theo điều kiện.

Bề mặt ngoại thất bao gồm cây cối và ống thông hơi cho bãi đỗ xe được tạo dáng. Cuối cùng sẽ được bao bọc cùng loại với đá lát đường. Trong khi số lượng chính xác và thời lượng của các điểm đỗ xe bus chưa xác định, dự kiến là dạng kết cấu đó sẽ phụ thuộc vào công việc nền đường được đề xuất trong gói thầu này.

4.2 Khu đỗ xe

4.2.1

Bản tóm lược phát triển khu Gorse Stacks (tháng 12 năm 2002) [GDSB] khẳng định rằng khu đõ xe lộ thiên sẽ được thay thế bởi một ‘khu đỗ xe ngầm dưới Bến xe bus cũ phố Delamere (site 8) tiếp cận với đường Victoria/ phố Delamere …[và] một bãi đỗ xe nhiều tầng tại “mũi” [cuối đông nam] của Gorse Stacks (site 12) tiếp cận với Gorse Stacks huawcj nếu có thể tiếp cận trực tiếp với đường vành đai ’ [GSDB 6.9.2 p25]. Hình dạng của bãi đỗ xe nhiều tầng phải tuân thủ theo Bản tóm lược bằng việc:

• Phát triển St và Gorse Stacks thành lộ trình đi bộ chính (6.9.2)
• Một điểm đõ xe bus lớn tại Gorse Stacks (6.9.2)
• Ưu tiên xe bus trên đường vành đai và Gorse Stacks (6.9.2)
• Dự án phải góp phần tích cực vào sự hình thành không gian dự kiến tại giao điểm của phố Williams và phố George (5.2 trang 12 đoạn cuối )
• Dự án bao gồm cả bãi đỗ xe phải cung cấp tầng trệt linh hoạt sử dụng Gorse Stacks (5.2 trang 13 đoạn cuối)
• Các phần cấu thành của cấu trúc thiết kế đô thị bao gồm tạo nên một quảng trường phố lớn và năng động cho phố George và Gorse Stacks – tuyến chính chạy ngang khu vực nối Northgate và Frodsham Street, nâng phố George St thành một tuyến đi dạo và tạo nên một không gian tại giao cắt của George St / Gorse Stacks và Williams St (6.13.2 trang 30)

4.2.2

Ian Simpson Architects được yêu cầu chuẩn bị hồ sơ tiền khả thi vào tháng 4 năm 2003, với một vài phương án nhằm giữ lại được khu vực đỗ xe công cộng trong khu đất cũng như yêu cầu có được 32 không gian cho những nhân viên mới. Chủ đầu tư là Hội đồng thành phố và ING Real Estates UK Ltd. Mục tiêu là nhằm thiết lập một sự xắp xếp phù hợp để chứa được lượng xe lớn nhất trong khu đất đồng thời nhắm tới những yêu cầu của GDSB và những yêu cầu chi tiết của bản Tóm lược của văn phòng Hội đồng thành phố. Phương án thiết kế hiện tại bao gồm: nghiên cứu hệ thống kĩ thuật và kết cấu chi tiết; tham khảo ý kiến của các nhà khảo cổ học thành phố và Giáo hội Anh; những nghiên cứu khu đỗ x e 2 tầng hầm. Bản nghiên cứu khả thi được hoàn thành vào tháng 4 năm 2003.

4.2.3

Ian Simpson Architects có một kinh nghiệm dày dạn trong lĩnh vực thiết kế những cấu trúc đõ xe nhiều tầng cho các cơ quan công quyền địa phương tại các khu vực cải tạo, nơi mà cấu trúc đo thị tương tự như tại GDSB. Công ty cũng đã xây dựng một số bãi đõ xe ngầm.

4.2.4

Những phương án thiết kế cho thấy khu vực đỗ xe được đặt dưới mặt đất do đó góc nhìn đẹp của thành phố cổ từ Hoole Way sẽ không bị tác động xấu do đó cấu trúc thiết kế đô thị cảu GDSB có thể đạt được. Khu đỗ xe cho 182 chỗ (32 cho văn phòng và 150 chỗ cho công cộng) cần cả tới 2 tầng hầm. Điều đó yêu cầu đào sâu khối lượng đáng kể đá nền, khoảng 3 m xuống dưới bãi đỗ xe hiện tại và bởi vậy phí tốn khá cao. Thiết kế cho thấy tối đa là 110 chỗ có thể cung cấp ở 1 tầng (32 chỗ cho văn phòng và 78 chỗ cho công cộng). Các nhà khảo cổ yêu cầu đào 25% của khu đất cho giai đoạn bắt đầu để cả hai phương án không phá hủy mất lớp địa chất khảo cổ (được định nghĩa là ‘tiềm năng thấp’ trong cuộc khảo sát tháng 10 năm 2002 ). Phương án một tầng hầm được phê duyệt bởi Thành phố và số lượng chỗ đỗ xe được cung cấp giảm xuống còn có 108 (32 cho văn phòng và 76 cho công cộng) bởi do sự tăng lến số lượng không gian cho ngưới tàn tật được cung cấp cho khu văn phòng.

4.2.5

Thiết kế của bãi đỗ xe phát triển từ cùng một vị trí và nguyên lý quy hoạch đô thị định hướng cho thiết kế của tòa nhà văn phòng:

• Dự án phải càng “xanh ” càng tốt (báo cáo danh mục đầu tư hội đồng thành phố 8.5.2002); khu tầng hầm đỗ xe có thể sử dụng thông gió tự nhiên bằng cách bố trí các ống thông hơi trên đường vành đai bên lề của tầng hầm, lợi dụng sự chuyển đổi 1.6 m cao độ giữa Gorse Stacks và đường vành đai (công trình văn phòng quay mặt về phía Gorse Stacks với tầng trệt có khuynh hướng theo hướng nam của các cao độ lát đường ). Hệ thống thông gió tới hướng nam và tây được cung cấp bởi những ống thông gió che chở và xác định một không gian công cộng lớn và mới ngay phía trước mặt tòa nhà văn phòng.

• Bãi đỗ xe phải hoạt động cùng với tuyến công trình mới tới Gorse Stacks và những không gian công cộng mới: một không gian chính được tạo trong tuyến cung của công trình văn phòng; không gian khác theo yêu cầu của GDSB (tại giao điểm của phố William cũ và Gorse Stacks/phố George) cho phép góc tây nam của site 11 (Ship Victory) trở nên cuốn hút và dễ nhận thấy.

• Dự án phát triển trong khu đất phải hướng tới tuyên bố về việc bảo tồn khu vực, tuyên bố này xác đinh tính chất đảo của vị trí nằm giữa đường vành đai và phố George và đòi hỏi sự trở lại của quy hoạch phố kiểu truyền thống và các cấp độ bao quanh.

4.2.6 Tiếp cận công trình:

• Các vấn đề thiết kế công trình: công trình được xây phải có một khoảng trống phía trước nối phố George với lối đi qua phố Frodsham và đường Cow. Do đó nó sẽ bao quanh một khoảng không gian mới ở sau Gorse Stacks thích hợp để xây khu phục vụ cho tòa nhà mới. Tuân theo tuyến này, hình dáng mặt bằng công trình sẽ bị giới hạn với chiều rộng 18 m. Tòa nhà phải xây cao hơn về phía tây bắc để tránh ảnh hưởng tới góc nhìn tốt nhất. Điều này sẽ đưa công trình tới gần với tuyến phố Williams St.

• Các vấn đề về bãi đỗ xe thương mại: bãi đỗ xe hiện tại có thể quan sát rõ từ phía đường vành đai nên những xe định đỗ ở đây sẽ vào theo hệ thống đường một chiều ở Northgate và biết được chỗ nào còn trống. Vì có ít chỗ ngầm hơn trước nên thiết kế này phải làm cho các phương tiện dễ dàng vào đây hơn hiện nay, và điều này làm nảy sinh giải pháp cho xe vào từ một vị trí nằm ngoài đường vành đai.

• Cao độ: cũng giống như lợi ích của việc thông gió tự nhiên, sự thay đổi các cao độ khu đất cho phép đến được tầng ngầm từ đường vành đai mà không phải đào xới nhiều. Vì chiều rộng của bản đồ quy hoạch là ở giữa site 11 và 12, có thể cho xe vào từ phía đường vành đai và các xe service từ phố George ở chỗ giao cắt phố William. Chiều rộng bản đồ ở điểm giao này không đủ để xây đường dốc xuống bãi đỗ xe để cho xe service vào theo chiều dốc.

• Không gian công cộng: khoảng không gian công cộng mới mà GDSB đòi hỏi phải có ở góc phố Gorse Stacks/William St không thể có được nếu cho xe vào từ phía Gorse Stacks. Bởi vì nếu như vậy con đường dốc được xây sẽ làm các khu đất và đường người đi bộ thông từ phía bắc phố George đến phố Frodsham cách nhau xa hơn.

• Bảo dưỡng xe cộ: cấp độ tối đa của bảo dưỡng xe cộ dự cho khu văn phòng và sử dụng cho khu A3 cho phép lối vào hiện tại từ phố William đến bãi đỗ xe được dùng một cách có kiểm soát trong khi vẫn tiếp tục lát phần đường cho người đi bộ mặc dù vỉa batoa gốc đứng và bỏ hết các lối vào.
Điều này cho phép khu vực này đạt được cấu trúc thiết kế đô thị như được miêu tả trong GDSB.

• Các vấn đề về giao thông và vận chuyển được đề cập đến trong tài liệu ‘Supporting Transport Statement’ của Buchanan Consulting Engineers (tháng 11-2002) kèm theo gói thầu.

• Lối đi cho người đi bộ: GDSB đòi hỏi cải tạo các liên kết cho người đi bộ giữa khu Northgate và trung tâm thành phố. Mặc dù GDSB yêu cầu đi vào cao độ theo tuyến giao điểm giữa trên đường vòng cung bên cạnh, sau khi thảo luận với các thành viên của Hội đồng Giao thông thành phố, người ta đã quyết định rằng những chỗ này sẽ được xác định tại các giao điểm đường vành đai. Điều này sẽ tạo ra luồng lưu thông của khách bộ hành quanh mặt bắc của khu nhà về phía đông nam ra cầu Cow Lane hoặc về phía tây nam vòng qua khu phục vụ. Trong trường hợp thứ hai này vị trí lối vào của bãi đỗ xe nằm xa đường vành đai có nghĩa là khách bộ hành sẽ không phải đi qua lối vào và ra khỏi bãi xe.

4.2.7 Các vấn đề chi tiết

• Thuyết minh kĩ thuật: bản tóm lược phát triển chính và thuyết minh kỹ thuật của điều khoản về thời hạn được chuẩn bị bởi nhà thầu và Hội đồng TP. Bãi đỗ xe nhằm đạt được giải thưởng “an toàn ngay từ thiết kế” và phù hợp với cuốn sách ‘Design Recommendations for Multi-storey and Underground Car Parks’ (3rd edition 2002) của Học viện Kĩ sư kết cấu. Lối vào: một phần của phố William vẫn còn một lối cao tốc không sử dụng.Việc đóng nó lại là một yêu cầu tiên quyết dễ đoán được.

5. Bối cảnh lịch sử

Những bức ảnh này cho thấy bối cảnh lịch sử mà thiết kế phát triển từ ảnh hưởng của những hình dáng và góc nhìn tù các bức tường thành

Để có bản vẽ chi tiết của công trình xin ấn đây