Để có dòng sông đẹp chảy qua thành phố

135

Mỗi đô thị lớn trên thế giới thường nổi tiếng với một dòng sông, và thước đo cho sự phát triển của đô thị là khả năng thỏa mãn nhu cầu cảnh quan, phục vụ nghỉ ngơi giải trí và tạo những không gian mở cho cư dân đô thị. Paris nổi tiếng với Nhà thờ Đức Bà bên sông Seine, sông Thames và tháp BigBen gắn liền với lịch sử của London, Leningrad có sông Nheva với bức tượng Piotr Đại đế, còn Tp. Hồ Chí Minh có sông Sài Gòn chảy qua.

Thành phố Hồ Chí Minh có một mạng lưới sông ngòi kênh rạch khá đặc sắc và phong phú, trong đó nổi bật là sông Sài Gòn và tuyến kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè. Quy hoạch thiếu hiệu quả, khai thác chưa hợp lý và quản lý chưa tốt khiến các không gian mặt nước này mất dần vẻ đẹp vốn có.


Hình 1: Kênh Nhiêu Lộc

Vậy dựa trên cơ sở nào để đánh giá chất lượng của một không gian mặt nước đô thị ? Phải làm sao để cải thiện cảnh quan mặt nước Tp. Hồ Chí Minh, sao cho mọi cư dân đều có điều kiện hưởng dụng an toàn, tiện nghi và thỏa mãn? Trong nội dung bài viết, tác giả xin tạm đặt ra bảy tiêu chí sau để đánh giá công tác quy hoạch và quản lý không gian mặt nước đô thị:

1. Xác định được rõ ràng chức năng của từng mặt nước đối với đô thị

Sự hình thành và phát triển tự phát các khu dân cư tại quận Bình Thạnh, quận 4 và quận 8 trước đây cũng như tại quận Gò Vấp, quận Tân Bình, quận 12 và quận 7 hiện nay đang làm lấp dần những mặt nước vốn rất quan trọng trong việc điều tiết vi khí hậu, đóng vai trò tiêu thoát, tích trữ nước mặt cho khu vực. Do đó, các khu vực này dễ bị ngập lụt vào mùa mưa và lượng nước đổ ra kênh lớn không điều hòa ổn định như trước. Một trong những nguyên nhân chính là sự xác định vai trò chức năng của các mặt nước này trong quy hoạch chi tiết chưa rõ ràng và thấu đáo.


Hình 2: Các dòng kênh và mặt nước nhỏ trong khu dân cư đang bị lấp dần, vốn là nơi điều hòa lượng nước mặt.

Tuyến kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè cũng vậy, vệc xây dựng những cây cầu bê tông với mật độ quá dầy ven kênh như hiện nay thực chất đang biến không gian dọc hai bên kênh trở thành một tuyến giao thông đường bộ tấp nập. Đã đến lúc Thành phố phải lựa chọn: hoặc sử dụng không gian ven kênh như một đường giao thông thuận tiện (đương nhiên đây là một giải pháp đơn giản cho bài toán giao thông đô thị, nhưng liệu như vậy có hợp lý không trong khi áp lực của phương tiện giao thông cá nhân vẫn gia tăng hàng ngày), hoặc giữ gìn được cảnh quan vô giá này cho các thế hệ sau. Hơn nữa, nếu dự án xây dựng tuyến đường khác cốt phía trên đoạn kênh này được duyệt, kênh Nhiêu Lộc sẽ chỉ còn là một cống hộp khổng lồ.

Sông Sài Gòn hiển nhiên được xem như một biểu tượng công cộng của Thành phố. Tuy nhiên vẫn còn nhiều tranh luận về việc di chuyển Cảng Sài Gòn, về các cây cầu bắc qua sông Sài Gòn và vai trò của Thủ Thiêm đối với Thành phố. Hệ quả là, vẫn chưa có một quy hoạch hợp lí nhất để nối kết chặt chẽ cộng đồng cư dân với mặt nước dòng sông.

2. Quy hoạch thực hiện thông suốt – có tham khảo ý kiến cộng đồng

Để khai thác hiệu quả không gian mặt nước đô thị, trước hết cần có được quy hoạch chung hợp lý. Các kế hoạch thường được định ra có thời hạn hiệu lực là 5 năm và, trong khoảng thời gian ngắn ngủi này, đô thị đã có biết bao thay đổi. Kết quả là hầu hết các quy hoạch như vậy được thực hiện khi đã lạc hậu không còn phù hợp thực tế. Tác giả xin tạm đưa ra dưới đây những nội dung cần thiết cho một bản quy hoạch chung không gian mặt nước:

– Bản liệt kê những tiềm năng thiên nhiên, giải trí, lịch sử và văn hóa của không gian mặt nước.

– Bản phân tích đánh giá các nhu cầu sử dụng.

– Bản phân tích đánh giá các mối liên hệ và các nhược điểm cần khắc phục.

– Bản đánh giá khả năng đáp ứng các yêu cầu của cộng đồng đô thị đặt ra.

– Những quy định, chỉ dẫn thiết kế.

– Chiến lược thực hiện (có ghi rõ thời hạn và lộ trình thực hiện).

– Dự toán ngân sách thực hiện.

– Cơ cấu thực hiện.

Vấn đề tham khảo ý kiến cộng đồng chỉ vừa xuất hiện gần đây, đã trở thành một nội dung thường gặp trong các quy hoạch chi tiết. Vậy nhưng, phần nhiều chúng mang tính thủ tục và mức độ ảnh hưởng cũng như hiệu quả tác động của nó ra sao, hiện vẫn chưa được xác định cụ thể.

3. Bảo tồn được quỹ đất dự trữ, quản lý và bố trí trang thiết bị đáp ứng được nhu cầu cộng đồng

Trong khi mật độ mảng xanh bình quân của Thành phố chỉ đạt chưa tới 3m2/người, là khá thấp nếu so với các đô thị lớn trong khu vực, việc đầu tư cho không gian mặt nước sẽ là giải pháp hợp lý hữu hiệu để giải quyết vấn đề thiếu không gian trống đô thị. Trong thực tế, các nhà quản lý nắm rõ giới hạn các nguồn tự nhiên như quỹ đất, hiện trạng mặt nước, mảng xanh, nhưng không có biện pháp đúng mức để ưu tiên cho nhu cầu hưởng dụng chung của cộng đồng. Và cuộc chiến diễn ra giữa cộng đồng cư dân với các nhà đầu tư kinh doanh để giành giật không gian trống đô thị, với chính quyền quản lý đóng vai trò bảo vệ người quyền lợi chung, hiển nhiên đã nghiêng phần lợi thế về phía nhà đầu tư.

Không gian mặt nước phải đủ “thoáng” để tổ chức được các hoạt động văn hóa giải trí nghỉ ngơi, bố trí các trang thiết bị đáp ứng nhu cầu cộng đồng. Điều này hầu như không được lưu tâm đúng mức trong quy hoạch dải xanh ven kênh Nhiêu Lộc. Điều dễ thấy nhất là thiếu hẳn chỗ ngồi nghỉ và các thảm cỏ trong thực tế cũng đã lấn hết diện tích có thể lắp đặt băng ghế. Do đó, rất phổ biến cảnh người dân ngồi chơi trên hai dải xích sắt lan can bờ kè, dễ gây tai nạn đáng tiếc. Ngoài ra, hai dải cây xanh ven kênh không có chỗ cho trẻ em vui chơi và sân bãi để tập thể dục khiến người sử dụng phải dẫm lên thảm cỏ, tạo thành thói quen thiếu ý thức tôn trọng không gian công cộng, dễ dàng dẫn tới sự phá hoại. Tất cả những vấn đề trên có nguyên nhân chung là thiếu dự trù trong quy hoạch ban đầu, không có quỹ đất dự trữ dành cho các hoạt động nghỉ ngơi giải trí, lễ hội.

Ở các đô thị Bắc Mỹ và Châu Âu, một phần trong cương lĩnh tranh cử chức thị trưởng là đầu tư cho các tiện ích công cộng như công viên, không gian mặt nước, vườn bách thảo bách thú v.v. Nhờ thế mà nhu cầu hưởng dụng của cộng đồng và nhu cầu thương mại của nhà đầu tư có được diễn đàn để đấu tranh, thỏa hiệp và tìm ra tiếng nói chung.

4. Không gian mặt nước dễ dàng tiếp cận và nối kết với các khu lân cận

Không gian mặt nước phải đảm bảo khả năng tiếp cận dễ dàng cho mọi người, không bị chi phối bởi khoảng cách tới nơi ở, điều kiện sức khỏe hay mức độ thu nhập. Giải pháp tiếp cận không chỉ là làm cầu vượt hay đường ngầm qua những tuyến đường lưu thông mật độ cao (ví dụ như trục đường Tôn Đức Thắng hiện lưu thông xe tải container, cắt đứt sự tiếp cận nối kết với khu công viên cây xanh Bến Bạch Đằng) mà việc tiếp cận còn phải được thực hiện dễ dàng đối với người già, người khuyết tật, trẻ em, bà mẹ với xe đẩy … tức cần có vật liệu ốp lát mặt nền, ramp dốc, biển chỉ dẫn và chỗ đậu xe lăn hợp lý thỏa đáng. Không gian mặt nước phải tiếp cận được từ nhiều hướng với nhiều hình thức và phương tiện giao thông (đi bộ, xe hai bánh, ôtô, bus, du thuyền v.v.), có tầm nhìn đẹp và thoáng, dễ dàng nhận biết và định hướng. Khách hưởng dụng phải dễ dàng tiếp cận với các hoạt động giải trí, thoải mái và yên tâm đi dạo dọc bờ sông, tiếp cận với cảnh quan mặt nước một cách an toàn, nối kết dễ dàng với các phương tiện giao thông công cộng và các phương tiện cá nhân, dễ dàng tiếp nhận thông tin về không gian mặt nước nhờ hệ thống bảng biển thông tin hợp lý.

Ngoài ra, để thực hiện tốt tiêu chí này, cần có một thiết kế hợp lý kết hợp hệ thống giao thông công cộng và các dịch vụ đi kèm với các tuyến đường xe đạp – đi bộ, các tuyến đường cơ giới và không gian mặt nước trong một tổng thể đồng bộ và chặt chẽ. Có thể lấy ví dụ như sau: một sự phối hợp giữa mạng lưới các trạm dừng xe bus (được bố trí khoảng cách sao cho người bộ hành dễ dàng tiếp cận và sử dụng) dọc theo không gian mặt nước (nối kết chặt chẽ thuận tiện với mạng xe bus hay metro thành phố) và các bến du thuyền sẽ khuyến khích lượng người hưởng dụng đáng kể.

5. Phải đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu sử dụng

Như đã nói, sự liên hệ giữa dòng sông với đô thị là một phần của văn minh đô thị và là thước đo trình độ phát triển của đô thị. Đô thị càng phát triển, nhu cầu hưởng dụng càng đa dạng và phức tạp, đòi hỏi kết hợp nhiều yếu tố và đầu tư chất xám đúng mức. Yếu tố này khiến dòng sông trở nên hấp dẫn người dân đến sử dụng, góp phần tạo nên “hồn đô thị”. Để nắm được nhu cầu hưởng dụng cần có sự khảo sát nghiên cứu cẩn thận khoa học, không chỉ là ước lượng tổng thể, mà còn nắm rõ người hưởng dụng từ điểm xuất phát và đến, theo thời điểm thời lượng trong ngày, theo hình thái hoạt động v.v.

Ngoài các nhu cầu nghỉ ngơi giải trí thông thường, không gian mặt nước còn là nơi diễn ra các hoạt động và lễ hội. Ta có thể chia các hoạt động và sự kiện trên sông và ven sông thành 4 nhóm:

– Các hoạt động giải trí, các hội chợ và lễ hội đường phố, các sự kiện đặc biệt, những ngày lễ, ngày nghỉ trong năm, những buổi biểu diễn (các buổi biểu diễn có tổ chức, các buổi biểu diễn lớn ngoài trời), những cuộc diễu hành, những cuộc tụ tập công cộng, các hoạt động sinh hoạt tổng hợp v.v.

– Các hoạt động phục vụ khách du lịch và cư dân thành phố như du thuyền dọc sông, ngắm cảnh tham quan v.v.

– Các hoạt động tiếp xúc với mặt nước như bơi thuyền, đài phun nước, vòi phun, đài phun bên trong công trình, các bức màn nước, hồ nước, các mương nước trang trí …

– Các hoạt động thương mại và phi thương mại, quảng cáo tiếp thị, tuyên truyền công cộng, hoạt động giáo dục, trưng bày và triển lãm, hội chợ khu vực, triển lãm quốc tế v.v.

Việc xác định mức độ thỏa mãn phải thực hiện qua khảo sát khoa học với đối tượng không chỉ là người hưởng dụng, mà cả với những người không hưởng dụng (không chỉ dựa theo những ý kiến phản hồi hay than phiền đơn thuần) thông qua các phương pháp quan sát khoa học, tập hợp số liệu và điều tra ngoại suy, thậm chí cả với không ảnh hoặc máy đếm tự động. Khảo sát cần tập trung vào nhu cầu, mức độ thỏa mãn cũng như thứ tự các nhu cầu ưu tiên. Nắm rõ nhu cầu hưởng dụng cũng góp phần thuận lợi cho việc kêu gọi và thu hút đầu tư.

6. An toàn và an ninh

Để thu hút người hưởng dụng, mặt nước phải an toàn, không có tệ nạn tội phạm cũng như những yếu tố nguy hiểm (ví dụ như thiết kế lan can, bờ kè an toàn, lối đi bậc thềm không bị vấp ngã hay cây xanh không rơi gãy xuống người đi bộ v.v.). Cơ quan quản lý ngoài nội dung bảo đảm an toàn – an ninh, còn có cơ cấu thuận tiện cho việc báo cáo phản hồi và phối hợp với người hưởng dụng.
Tội phạm tất nhiên tùy thuộc vào nhiều yếu tố nằm ngoài tầm kiểm sóat của nhà quản lý như nghèo đói, ma túy, nghiện rượu, dân cư quá đông đúc, cơ cấu đô thị không cân bằng v.v. Tuy nhiên có những yếu tố khác như vị trí khai thác cảnh quan dòng sông, thiết kế không gian, đội ngũ bảo vệ, các trang bị tiện ích công cộng v.v. thuộc khả năng kiểm soát của nhà quản lý. Một yếu tố rất quan trọng khác là sự tham gia của người dân. Vẻ ngoài sạch sẽ và an ninh trật tự sẽ khuyến khích, thu hút thêm nhiều người tới hưởng dụng không gian mặt nước. Ngược lại, chính sự tích cực của người dân sẽ giữ gìn bảo vệ cảnh quan dòng sông. Kinh nghiệm từ việc tổ chức không gian công cộng trên thế giới cho thấy, việc người dân tích cực tham gia nghỉ ngơi vui chơi chính là điều kiện quyết định để chặn đứng sự quay trở lại của các tệ nạn xã hội. Người dân sẽ là những người bảo vệ tích cực nhất, ngăn chặn hành vi phá hoại các tiện nghi công cộng như băng ghế, thảm cỏ, bảng chỉ dẫn, dù che, thùng rác v.v. nếu họ cảm thấy gắn bó và có mối quan hệ thân thiết với chúng. Do đó, không gian mặt nước cần được tổ chức sao cho người dân thấy rằng chúng thực sự là của họ, phục vụ chu đáo và chia sẻ cảm xúc với họ.

7. Những lợi ích khác cho đô thị nằm ngoài ranh giới con sông Có thể liệt kê ra đây rất nhiều lợi ích mà con sông đem lại cho đô thị:

– Cung cấp cảnh quan tự nhiên, nước sạch.

– Cung cấp không khí trong lành, nhờ mảng xanh ven mặt nước lọc chất bẩn, chất thải.

– Tạo không gian nghỉ ngơi thư giãn, đường đi bộ, tập chạy, sân bãi thể dục thể thao, và các tiện ích phục vụ sức khỏe cộng đồng.

– Tạo không gian nghỉ ngơi giải trí, tổ chức hoạt động lễ hội, các sự kiện văn hóa xã hội.

– Tạo cơ hội để tổ chức cho trẻ em tiếp xúc với thiên nhiên và hệ thực vật, động vật trong tự nhiên.

– Tiềm năng khai thác du lịch của thành phố.

– Khuyến khích đầu tư, phát triển kinh tế đô thị, tạo việc làm liên quan tới công tác quản lý bảo trì duy tu không gian mặt nước.
v.v.

Một thiết kế thành công phải có tác dụng khuyến khích các giao tiếp xã hội giữa các nhóm người hưởng dụng. Các cơ quan quản lý và nhà đầu tư nên đứng ra phát động những cuộc thi sáng tác, thiết kế các biểu trưng cho công viên ven sông – ven kênh, thiết kế những mẫu thùng rác, thiết bị chiếu sáng công cộng, biển chỉ dẫn – thông tin, dù che – mái che, quầy thông tin – kiosk, băng ghế, các điêu khắc trang trí v.v. trong toàn thể cộng đồng Thành phố, nhằm mục đích giúp gắn bó chặt chẽ hơn mối quan hệ giữa người dân với không gian mặt nước.

Nhìn ra thế giới, ta thấy vấn đề cùng phát triển hài hòa bền vững với thiên nhiên là xu thế chung trong thế kỷ 21 của các đô thị hiện đại. Mối quan hệ tương hỗ giữa dòng sông và cộng đồng cư dân đô thị, thể hiện qua cách thức ứng xử của cộng đồng với môi trường tự nhiên, là một phần của văn minh đô thị và là tiêu chuẩn để đánh giá trình độ phát triển của đô thị. Thật đáng tiếc, trong mắt khách du lịch, có vẻ như các đô thị tiên tiến đã đi trước Tp. Hồ Chí Minh khá xa về mặt này.

Ta có thể tìm ra không ít kinh nghiệm thú vị về công tác quy hoạch và quản lý không gian mặt nước tại những thành phố lớn trên thế giới. Để tham khảo, tác giả xin dẫn ra đây một số ví dụ tiêu biểu.

Tại Nhật Bản, chiều dài đáng kể và sức chảy đều đều chậm rãi của dòng nước khiến các con sông chảy qua Tokyo rất thích hợp cho vận chuyển đường thuỷ. Tuy nhiên do lũ lụt thường xuyên, hàng loạt con đê và đập bê tông đã được xây dựng. Kết quả là, các con sông ở Nhật Bản có thời từng chảy qua những vùng có môi trường tự nhiên tươi tốt, đã mất đi vẻ đẹp xưa kia của chúng và con người mất đi mối liên hệ với dòng nước tại địa phương của mình. Các con đê bê tông đồ sộ được xây dựng để ngăn lũ lụt tràn bờ và, viện cớ đảm bảo an toàn, người dân bị ngăn giữ cách xa khỏi dòng nước. Thậm chí cho đến gần đây, một số đoạn kênh và dòng chảy xuyên qua Tokyo vẫn bị bao quanh bởi hàng rào kẽm gai. Dù những hàng rào này nhằm tránh cho con người không bị tai nạn, chúng cũng ngăn cản bất cứ ai đến gần mặt nước. Các nhà hàng dọc sông Sumida ở Quận Hamachô của khu Chuô tại Tokyo xưa kia thường bố trí các khu vườn bên bờ sông. Các ca sĩ lưu động hát nhạc trữ tình có thể tới đây bằng thuyền, và để tỏ lòng trân trọng với buổi diễn, những thực khách của nhà hàng thường cúi người xuống trao cho họ những món tiền thưởng quấn trong một tờ giấy. Ngày nay, những bờ kè bê tông cao viền dọc bờ sông Sumida, và ta không thể trông thấy dòng nước từ chỗ những khu vườn được nữa. Không còn lại gì của không khí thanh lịch tao nhã thời kỳ đã qua khi người trình diễn lướt nhẹ trên con thuyền để đến với nhà hàng.


Hình 3: Cảnh quan dọc sông Sumida trên tranh cổ Nhật Bản

Đất nước Hà Lan vốn nổi tiếng với con kênh đào đi ngang qua thành phố. Đối với các du khách, chuyến đi thuyền ngoạn cảnh dọc kênh quả là một kỷ niệm khó quên, sau khi được duỗi mình tắm nắng trên mui thuyền, nhâm nhi ly vang đỏ với món pho mát Hà Lan. Tại xứ sở thấp hơn mục nước biển này, người ta không chỉ khai thác cảnh quan các con sông và kênh đào, mà còn chủ động đưa chúng vào trong khu ở. Trong những khu ở, người ta đào những ao mương nhỏ điều hòa và tổ chức chúng như một tiểu thiên nhiên có điều tiết. Khi có mưa, nước mặt được thu vào và lưu giữ tại đây, ngăn ngập lụt cho khu vực xung quanh. Trẻ em trong khu tự do ra đây chơi đùa, vầy nghịch (mực nước được giữ trong khoảng an toàn đối với trẻ em).


Hình 4: Ao mương nhỏ để điều hòa nước mặt và tạo cảnh quan, nơi vui chơi cho thiếu nhi.


Hình 5: Dòng chảy qua khu ở tại Hoge Zijke, Hà Lan. Không cần bờ kè bê tông, cư dân có thể tiếp xúc trực tiếp với mặt nước.


Hình 6: Du khách có đi thuyền để tham quan thành phố. Amsterdam.

Trong các dự án khai thác cảnh quan mặt nước trên thế giới thời gian gần đây, nổi tiếng nhất là dự án Paris Plage – bãi biển nhân tạo trải dọc sông Seine. Bắt đầu từ năm 2002, cứ đến mùa hè là người ta lại đổ ra dọc suốt 3 km hai bên sông Seine khoảng 3000 tấn cát trắng, hàng trăm cây cọ, khoảng 300 ghế bố tắm nắng và các cây dù che. Người ta cũng có thể ra đây chơi pentanque và bóng chuyền hay khiêu vũ trong các quán café kiểu cổ, ngồi nghe các ban nhạc biểu diễn Hiệu quả của dự án thật không kể xiết, như lời Sedo Koukoui, một nhân viên an ninh ở đây: “Thật tuyệt là mọi người không cần rời khỏi Paris trong mùa hè. Trẻ em, người lớn và khách du lịch đều có thể ra đây vui đùa và thư giãn”. Chỉ trong một tháng thực hiện, đã có trên 3 triệu lượt khách tới hưởng dụng. Dự án này cũng đóng phần tích cực trong chiến dịch vận động của Paris để tranh quyền đăng cai Thế vận hội 2012 cùng thành phố London.


Hình 7: Bãi cát nhân tạo tại Paris Plage

Quay lại với Tp. Hồ Chí Minh, ta không khỏi ngẫm tới bao tiếc nuối. Giá như chúng ta không để lấp mất nhiều mặt nước nhỏ đến thế trong những khu dân cư mới phát triển, và cải tạo chúng thành những không gian cảnh quan – điều tiết vi khí hậu như tại Hà Lan. Giá như khi giải tỏa hai bên kênh Nhiêu Lộc, người ta thiết kế dải đất hai ven kênh rộng hơn, dành ra quỹ đất dự trữ thích hợp cho các dự án phục vụ công cộng. Biết bao điều giá như như thế trong một đô thị đang phát triển và thay đổi từng ngày mà những mất mát của tự nhiên và cảnh quan gần như không thể bù đắp và khôi phục.

Vài năm gần đây, Thành phố đã đầu tư khá nhiều cho công tác thiết kế chỉnh trang đô thị, nhất là trang trí cây xanh và hoa cho các trục đường chính (thậm chí cả những cây cầu bình thường như cầu Thị Nghè, cầu Điện Biên Phủ cũng được phủ hoa và cây xanh) cũng như tổ chức chương trình các lễ hội tại các công viên lớn và trục cảnh quan Nguyễn Huệ. Việc tổ chức thành công cuộc thi quốc tế quy hoạch Khu trung tâm đô thị mới Thủ Thiêm với đồ án đọat giải do Công ty Sasaki Associates thực hiện, là một ví dụ cụ thể. Vậy thì điều gì đang cản trở Thành phố chúng ta không có được những dự án thiết kế không gian mặt nước thành công, hấp dẫn người dân nghỉ ngơi, giải trí ? Theo suy nghĩ của tác giả, Tp. Hồ Chí Minh cần có một thiết kế không gian mặt nước thí điểm, chuẩn mực và thực hiện nghiêm túc để làm hình mẫu thu hút sự chú ý và đóng góp của cả cộng đồng cư dân thành phố, cũng giống như thành công của Khu đô thị mới Nam Sài Gòn đã kích thích và tạo cảm hứng cho các thiết kế đô thị ở Tp. Hồ Chí Minh.

Nhìn từ cửa sổ máy bay, ta thấy Tp. Hồ Chí Minh sở hữu một mạng lưới kênh rạch sông ngòi chằng chịt, phong phú. Điểm xuyết trên mạng lưới này là rất nhiều các công trình lịch sử văn hóa có giá trị, gắn chặt với lịch sử hình thành và phát triển của thành phố. Dòng chảy qua thành phố tương đối hiền hòa, tốc độ không quá nhanh, biên độ triều cũng không lớn, rất phù hợp để thiết kế thành dòng chảy cảnh quan. Việc thu hút người dân đến với không gian mặt nước sẽ gắn bó chặt chẽ mọi người với lịch sử văn hóa Thành phố, là yếu tố quan trọng hun đúc nên “hồn đô thị” của Sài Gòn – Tp. Hồ Chí Minh. Vào những ngày này, nếu đi dọc tuyến đại lộ Đông Tây dọc tuyến kênh Tàu Hũ mới giải tỏa, bạn sẽ thấy rất nhiều bãi đất trống ven kênh phù hợp cho những dự án thiết kế đô thị. Kế hoạch di dời Cảng Sài Gòn và Nhà máy Ba Son, dù được thực hiện sớm hay muộn, cũng sẽ tạo nguồn đất cho vô số dự án ven sông. Liệu thành phố ta có tận dụng được những cơ hội này không, hay lại để chúng vuột mất như trước đây?


Hình 8: Kênh Tàu Hũ vừa được tháo dỡ để làm xa lộ Đông-Tây. Rất nhiều bãi đất trống có thể khai thác thành công viên xanh ven kênh.

Tác giả tin rằng, nếu có được cố gắng nỗ lực của cư dân toàn Thành phố, với những bước chuẩn bị thỏa đáng, những giải pháp tổng hợp và khả thi, chúng ta có quyền mơ tới một tương lai được an toàn và tự tin xuống thuyền thư giãn dọc kênh Tàu Hũ hay sưởi nắng bên bờ sông Sài Gòn. Nếu không, rất có thể Tp. Hồ Chí Minh sẽ đánh mất cơ hội quý giá giữ gìn cảnh quan sông nước đặc trưng và sẽ không còn những không gian mặt nước đẹp phục vụ cho mọi tầng lớp cư dân đô thị.

ThS. KTS. Lý Thế Dân
(Tháng 2/2006)