Ngay từ đầu, phải nói rằng thuật ngữ “ô nhiễm kiến trúc” dễ gây ấn tượng về một cách nói có phần nhấn mạnh khía cạnh ẩn dụ cho vấn đề hình thức kiến trúc xấu. Nhưng cần phải nhìn việc “ô nhiễm” này ở mức độ có thống kê khoa học. Nói đến ô nhiễm kiến trúc nghĩa là phải xét tới ô nhiễm về bốn phương diện: công năng, kinh tế, vật liệu và thẩm mỹ.

Bộ mặt kiến trúc Việt Nam gần đây mang nét lộn xộn nham nhở của loại hình cư trú ở mức độ chạy theo đáp ứng về lượng. Thế nhưng lượng này mới chỉ phản ánh được sự đuổi bắt không hồi kết với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Trong tình hình kinh tế sa sút, lượng này có nguy cơ trở thành một di chứng nặng nề của sự cẩu thả, chắp vá, của rất nhiều thứ liên quan được nóng lên thành cơn sốt. Trong khi đó, các vấn đề kiến trúc của các công trình lại không còn được bao nhiêu sự quan tâm. Vì thế, nói “ô nhiễm kiến trúc” ở Việt Nam là nói đến phương diện tâm lý xã hội, khi 4 phương diện nói trên của kiến trúc đã không còn được tính đến trong lối xây dựng, và đây thực sự là vấn đề bức bối. Điều trái khoáy khi vốn đầu tư càng nhiều thì chất lượng kiến trúc quy hoạch dường như tụt hậu, song xét ở khía cạnh tâm lý khi tốc độ và tính kiếm lợi manh mún thì điều này không có gì đáng ngạc nhiên.

Công năng của những ngôi nhà được xây ở Việt Nam thoạt tiên có vẻ như là một hiện thực chắc chắn nhất. Từng ngôi nhà đều được tính toán sao cho từng mét vuông sinh lời, nhưng xét về các tiêu chuẩn như khả năng linh hoạt, độ chiếu sáng, thông khí hay giải quyết vi khí hậu lại gần như rất kém. Ví dụ những căn nhà lô và mặt phố – là những loại nhà chiếm đa số trong hình ảnh kiến trúc các đô thị – chỉ có một mặt tiền nên những tiêu chuẩn trên cố gắng lắm cũng chỉ được giải quyết một cách gián tiếp. Tưởng như không còn bỏ phí một mét vuông diện tích nào khi các căn nhà này xây hết đất, song rõ ràng khi thiếu những xử lý tương tác với môi trường thì người ta phải dùng các hình thức bổ trợ sử dụng năng lượng như máy lạnh, chiếu sáng nhân tạo… Khi việc này diễn ra ở tần suất cao và trên một diện rộng, bài toán công năng hoá ra lại chỉ được giải quyết rất kém, và kéo theo là ô nhiễm môi trường theo nghĩa đen: khí thải nhà kính, tiêu hao năng lượng có nguồn gốc carbon vốn đang dần cạn kiệt và có giá càng ngày càng đắt.

Một ngôi nhà muốn giải quyết công năng riêng của nó cũng chưa thể thành công khi xung quanh nó là những căn nhà toả ra hơi nóng hoặc bức xạ nhiệt quá lớn và thiếu cây xanh. Lúc này lại cần một không gian tiểu khu, và rộng hơn là quy hoạch một vùng phải có những điều kiện về mặt nước, cây xanh, hướng gió chung và các tiêu chuẩn chống ồn, lượng xe cộ ở mức đảm bảo vệ sinh cho cư dân. Nhìn vào bộ mặt không gian kiến trúc đô thị, điều này chứng minh rõ, những khu dân cư có được các điều kiện này ở mức độ khá lại gần như lọt thỏm và quá ít so với đông đảo phần còn lại.

Sự lãng phí trong xây dựng (thông qua nhiều hình thức), việc đuổi theo các hình thức kiến trúc nặng về trang trí rập khuôn, cũng như mỗi nhà một kiểu kiến trúc không ăn nhập với nhau, thực tế là một khía cạnh của ô nhiễm kiến trúc về mặt kinh tế. Nắn chỉnh một tuyến đường thiếu đồng bộ đương nhiên tốn kém hơn nhiều so với triển khai có kế hoạch tốt. Sự hỗn loạn và không điều tiết được của giá cả xây dựng cũng như bất động sản là một tác động có thực đến “ô nhiễm kiến trúc”. Những khu đô thị mới với những toà chung cư như rừng bê tông, chủ đầu tư gạt bỏ những phần phụ trợ do kiến trúc sư đưa ra để làm giảm chi phí và tăng mật độ xây dựng, lại là một chiều ngược lại với sự lãng phí. Nhưng kết quả cũng vẫn là một sự ô nhiễm được báo trước.

Khi vật liệu phong phú hơn, câu chuyện đâu là vật liệu chủ đạo mang ngôn ngữ của thời này lại ít được nhắc đến nghiêm túc. Trừ những toà nhà cao tầng đơn lập lắp dựng kính thép, đại bộ phận vẫn là bê tông và mái tôn chống nóng lô nhô ở trên. Ô nhiễm về mặt vật liệu còn mang tính cấp thiết bởi liên quan đến các chất sử dụng để sơn phủ bề mặt, chống thấm và độ phôi của vật liệu xây dựng trong điều kiện khí hậu. Điều này có thể được kiểm tra từ khâu sản xuất, song ô nhiễm về cách thức sử dụng vật liệu lại rất khó xử lý. Tuổi thọ của vật liệu ra sao, phá dỡ và khả năng phân huỷ của chúng thế nào, lại chưa được nói đến. Tuổi thọ công trình kiến trúc ở Việt Nam được xem là thấp, vậy vật liệu là thứ “rác” khổng lồ còn lại khi công trình thành phế thải thì được đưa về đâu? Chưa nói đến tình trạng ăn cắp hoặc rút ruột công trình, mà ngay từ việc duy tu bảo dưỡng cho những công trình rẻ tiền cũng gần như bị co lại tối đa. Những đối tượng kiến trúc này lại chiếm đa số, và khi không được tính đến, chúng dự kiến trở thành những bãi “xà bần” khổng lồ cho hai mươi năm nữa. Những khu tập thể cũ là ví dụ. Ô nhiễm về vật liệu không còn là chuyện ô nhiễm theo nghĩa thị giác, mà thực tế là sự ô nhiễm gần với nghĩa đen nhất.

Hình thức kiến trúc bị ô nhiễm, có lẽ là câu chuyện hãy còn quá xa vời với nhu cầu cư trú của cư dân, nhất là ở các đô thị. Thành phố xấu, đường phố lộn xộn mặt tiền, và nhà không đẹp vì hình thức không được thiết kế đồng bộ, đấy là một cấp ô nhiễm ở mức dễ đập vào mắt nhất. Ô nhiễm hình thức là khía cạnh chưa được bàn đến, nhưng nó là tiền đề cho các chứng stress đô thị, cho nỗi đau đầu của những nhà quy hoạch và phản ánh tâm thế một xã hội phát triển không bền vững. Xét đến cùng, chỉ ra một hay nhiều căn nhà xấu xí hay một tuyến phố nát vụn không khó, song “sạch hoá” chúng như thế nào, thì cần những cuộc cách mạng về kiến trúc và quy hoạch. Cuộc cách mạng này phải nhìn từ phương diện xã hội học và tầm mức ổn định của đời sống. Những mặt nhà lổn nhổn cao thấp không đều hay mỗi mặt tiền sơn một màu loè loẹt, cho đến kiểu dáng vay mượn hổ lốn là cấp căn bản của từng đơn vị. Những khu đô thị cũ mới đan xen nhau, thiếu những mạng lưới giao thông và hạ tầng cơ sở phân cấp đến nơi đến chốn, việc tham lam lấn đất ngoại thành để xây nhà ở, là cấp rộng hơn, là mảnh đất màu mỡ cho những ô nhiễm cấp đơn vị kia nảy nở. Cuối cùng, tâm lý ăn xổi, làm nhanh và đáp ứng nền kinh tế nóng tạo nên một tốc độ không kiểm soát nổi, đến mức mọi bản quy hoạch đều “nhỡ thì” so với thực trạng kiến trúc xây dựng đang có.

Để hoá giải câu chuyện “ô nhiễm” này, có lẽ hơn hết là một tư duy vượt ra những lối đáp ứng đầu tư trước mắt, hoặc chạy theo lợi ích của một nhóm thiểu số nào đó. Đương nhiên, phần nào kinh tế quyết định đẳng cấp kiến trúc, nhưng cách biệt giàu nghèo chỉ làm tăng khác biệt giữa những khu dân cư sang trọng và đám “ghetto” còn lại. Bài học thì đã có: sự phổ biến của việc sao chép vụng về những hình thức kiến trúc của những nơi “sang trọng” để áp vào các căn nhà của đa số bình dân. Hoặc rộng hơn, cả một nền kiến trúc Việt Nam, một nước thế giới thứ ba, khi không có khả năng tự trang bị cho mình một kinh nghiệm vững vàng, lại là một nền kiến trúc sao chép của các nước phát triển, nhưng lại không có một nền tảng lý luận và nghiên cứu đủ mạnh để tiêu hoá chúng. Ô nhiễm kiến trúc, đáng báo động hơn, lại bắt đầu lan tràn ở nông thôn, nơi không có quy hoạch và thông tin để nâng cấp những không gian sống của mình trong bối cảnh xã hội hôm nay.

Bài Nguyễn Trương Quý (Kinh tế & Đô thị )