Trước yêu cầu thực tiễn hiện nay, công tác quy hoạch đã thể hiện rất nhiều yêu cầu đổi mới toàn diện, đặc biệt là việc tích hợp các quy hoạch chuyên ngành với quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị (QHĐT). Hướng đến phát triển bền vững, sản phẩm quy hoạch đô thị cần thể hiện tính chiến lược, tăng cường sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, trách nhiệm cộng đồng và đặt trong hệ thống phối hợp toàn diện.

Quy hoạch xây dựng đô thị hiện nay

Trong thời gian qua, với chính sách đổi mới, hội nhập, cùng với sự phát triển nhanh về các mặt kinh tế – xã hội, hệ thống các đô thị Việt Nam đã tăng nhanh cả về số lượng, chất lượng. Đến tháng 9/2015 cả nước có khoảng 788 đô thị trong đó có 2 đô thị đặc biệt (Hà Nội, TP HCM), 15 đô thị loại I, 25 đô thị loại II, 42 đô thị loại III, 74 đô thị loại IV và khoảng 630 đô thị loại V. Tỷ lệ đô thị hóa đạt xấp xỉ 35,2%. Đóng góp cho sự phát triển chung có vai trò lớn của hệ thống các đồ án QHĐT. Tuy nhiên, trên yêu cầu phát triển thực tiễn, có thể chỉ rõ một số những vấn đề cần khắc phục trong thời gian tới.

Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị quốc gia, quy hoạch xây dựng vùng tỉnh đã và đang có đóng vai trò quan trọng trong phát triển đô thị và điểm dân cư nông thôn. Hiện nay, các tỉnh đang triển khai rà soát, tổ chức nghiên cứu điều chỉnh theo quy định của Luật Xây dựng. Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh trong thời gian qua được xây dựng và triển khai theo kiểu dàn hàng ngang, tăng về số lượng đô thị (gấp1,5-2 lần so với hiện trạng) dẫn đến sự phát triển thiếu kiểm soát không phù hợp với quy hoạch định hướng phát triển hệ thống đô thị quốc gia.

Quy hoạch chung đô thị có ảnh hưởng mạnh nhất đến quá trình phát triển của từng đô thị nhưng còn thiếu hiệu quả, chưa phù hợp thực tế phát triển tại địa phương. Có một khoảng cách lớn giữa quy hoạch mang tính tầm nhìn và thực tế triển khai quy hoạch được duyệt. Thiếu cơ chế chính sách chuyển hoá quy hoạch thành các chương trình kế hoạch thực thi phù hợp với thực tế phát triển của địa phương dẫn đến nhiều quy hoạch vẫn “treo” sau khi được duyệt. Để các quy hoạch có hiệu quả hơn, quy hoạch cần có tính chiến lược, ít cứng nhắc hơn và điều quan trọng nhất cần dựa trên các nguồn lực thực tế của địa phương và phải tính tới các rủi ro, thách thức phải chống chịu để có tính khả thi cao hơn.

Quy hoạch phân khu (thực hiện theo Luật QHĐT), cần được triển khai để điều tiết sử dụng đất, kết nối hạ tầng cơ sở, nhưng thiếu hoặc chưa thể hiện vai trò hoặc không tách bạch được với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (thực hiện theo Luật Đất đai) dẫn đến những khó khăn trong quản lý đầu tư, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất vào mục đích phát triển đô thị.

Quy hoạch chi tiết tại các quận, phường, các khu có chức năng đặc thù chưa có nội dung thiết kế đô thị, hoặc nếu có thì còn sơ sài, chưa đủ cơ sở để xây dựng quy chế quản lý kiến trúc cảnh quan đô thị. Bên cạnh đó, quy hoạch chi tiết 1/500 thường xuyên được điểu chỉnh tăng diện tích kinh doanh giảm diện tích công trình hạ tầng kỹ thuật – xã hội và cây xanh dẫn đến dự án sau được thực hiện không đảm bảo quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng, thiếu trầm trọng diện tích cây xanh, mặt nước, công viên và các công trình phúc lợi công cộng.

Kinh nghiệm quốc tế

Kinh nghiệm của Nhật Bản

QHĐT Nhật Bản là một bản quy hoạch chiến lược phát triển hay cải tạo nâng cấp chung cho đô thị, rất nhiều dự án mấu chốt được xác định tại bước quy hoạch chung đô thị. Tuy nhiên quy hoạch đô thị thường chịu ảnh hưởng rất mạnh bởi quy hoạch giao thông, đặc biệt tuyến đường sắt cao tốc (Shinkansen) và sự gắn kết các loại hình giao thông thủy bộ, hàng không …

Trên quan điểm phát triển bền vững quy hoạch các thành phố của Nhật thường được xem xét kỹ cả quy hoạch “cứng” và “mềm” của đô thị. Phần cứng là xây dựng hạ tầng cả kỹ thuật và xã hội cho đô thị, phần mềm là chuẩn bị chất lượng dân cư, môi trường sống cho người dân đô thị. Quy hoạch vùng và quy hoạch chung được xem là công cụ pháp luật quan trọng, được chuyển tải thành các chương trình dự án cụ thể (quy định tại Điều 3 trong Luật Quy hoạch), quảng bá xúc tiến đầu tư nên sau khi được hoàn chỉnh, sẽ được công bố rộng rãi, đặc biệt về quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch hạ tầng cơ sở, các chương trình, chính sách và những nguyên tắc phát triển để các nhà đầu tư và nhân dân tham gia thực hiện.

QHĐT của Nhật Bản có 03 sản phẩm chính: một là quy hoạch sử dụng đất, hai là quy hoạch hạ tầng và ba là danh mục các dự án phát triển. Quy hoạch sử dụng đất là việc lập kế hoạch tận dụng đất đai một cách có hiệu quả, trên cơ sở đánh giá đúng điều kiện tự nhiên – môi trường và nhận biết chính xác sự phân bổ các khu vực chức năng cũng như hạ tầng đô thị. Quy hoạch sử dụng đất là nội dung chủ yếu trong các đồ án QHĐT chủ yếu xác định đề xuất hai khu vực cơ bản: khu khuyến khích và hạn chế phát triển đô thị. Các khu vực này được quy hoạch chia nhỏ theo giải thửa hay từng lô với các quy định chặt chẽ về thiết kế kỹ thuật công trình đô thị.

Quy hoạch các quận huyện được lập có nội dung chủ yếu liên quan đến thiết kế đô thị (TKĐT), hướng tới việc đưa ra nhưng nguyên tắc và hướng dẫn xây dựng đô thị cũng như giữ gìn đặc trưng cho từng khu vực đô thị. Vì vậy quy hoạch quận huyện có thể xem là phần bổ sung chi tiết cho quy hoạch sử dụng đất toàn thành phố. QHĐT cấp quận xác định các dự án chuyển đổi đất xây dựng đô thị và thiết lập điều lệ quản lý sử dụng đất và các hướng dẫn thiết kế đô thị ở cấp quận, đảm bảo sử dụng đất có hiệu quả đặc biệt với các khu vực chuyển đổi chức năng và các khu vực đất trống trong nội thị.

Kinh nghiệm của Australia

Quy hoạch ở Australia là một quá trình từ dưới lên trên, quy hoạch bắt đầu từ cấp chính quyền địa phương, có sự tham gia, tham vấn của chính quyền cấp cao đảm bảo sự phối hợp cần thiết giữa các cơ quan có liên quan tại địa phương. Để kiểm soát phát triển, sau bản quy hoạch chiến lược, thực hiện lập quy hoạch cấu trúc chỉ ra các yêu cầu quản lý sự thay đổi: về sử dụng đất (đối với tất cả các khu vực chức năng bao gồm cả việc chuyển đổi đất tại khu vực nông thôn và chuyển đổi hoạt động nông nghiệp). Địa phương dựa trên kiến thức và kinh nghiệm của mình tổ chức lập quy hoạch chiến lược cho toàn đô thị và lập quy hoạch cấu trúc cho từng phần khu vực. Sự can thiệp của chính phủ vào quy trình quy hoạch ở Úc là không đáng kể (trừ các dự án xây dựng đường cao tốc, đường sắt…).

Tại Australia đồ án quy hoạch tại địa phương được lập làm cơ sở để cấp phép quy hoạch. Các khu thực sự có nhu cầu đầu tư xây dựng cải tạo chỉnh trang, xây dựng mới tổ chức lập quy hoạch cấu trúc làm cơ sở cấp giấy phép quy hoạch để lập hồ sơ xây dựng; Đơn xin cấp phép được xem xét khi thỏa mãn các điều kiện về quy hoạch chiến lược, quy hoạch cấu trúc và không làm ảnh hưởng đến xung quanh (đặc biệt là ảnh hưởng về tiếng ồn, ô nhiễm về môi trường… cũng như những đóng góp tích cực về tạo thêm không gian xanh, trồng cây, bảo vệ khí hậu, nâng cao khả năng tiếp cận…). Đồ án quy hoạch được duyệt là công cụ pháp luật để phổ biến rộng rãi cho công chúng và cộng đồng, doanh nghiệp. Việc cấp phép quy hoạch là một quy trình mở tạo tính linh hoạt tối đa cho nhà đầu tư cũng là công cụ hữu hiệu để tăng cường kiểm soát quá trình đầu tư phát triển đô thị theo quy hoạch được duyệt.

Quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
Quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Một số nội dung đề xuất nghiên cứu đổi mới

Quy hoạch xây dựng đô thị cần đi trước một bước và mang tính chiến lược hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Bền vững về xã hội: Để đô thị phát triển bền vững, quy hoạch xây dựng đô thị phải phải cân bằng được mọi giá trị văn hóa, tôn giáo, phải bảo đảm đầy đủ các yếu tố xã hội kỹ thuật và dịch vụ thiết yếu. Để đạt được yêu cầu đó, công tác tuyên truyền phải được tiến hành xuyên suốt; chính quyền cần tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để người dân được tham gia quy hoạch và quản lý phát triển đô thị.

Bền vững về tự nhiên: Tiêu chí này dựa trên nguyên tắc quy hoạch phải tạo sự thân thiện với môi trường xung quanh, ứng phó thích nghi với biến đổi khí hậu (BĐKH); thiết lập một thứ tự ưu tiên để có giải pháp thực hiện cụ thể.

Bền vững về kỹ thuật: Thể hiện sự gắn kết quy hoạch hạ tầng kỹ thuật được kết hợp với thiết kế cảnh quan đô thị. Quy hoạch quy định chi tiết tiến độ thi công, đồng bộ các hạng mục, xây trước, xây sau nhịp nhàng và hợp lý. Trong đó lựa chọn công nghệ cũng là điều đáng chú ý. Công nghệ tốt nhất là công nghệ phù hợp với sự tiến bộ, với năng lực vận hành phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội…

Bền vững về tài chính: Công tác phân tích kinh tế – xã hội và tài chính được thực hiện rất nghiêm ngặt ở tất cả các giai đoạn của dự án nhằm tính toán mọi chi phí cần thiết để đầu tư, vận hành, bảo dưỡng, và quản lý.

Quy hoạch cần có vai trò tăng cường điều tiết khống chế vĩ mô nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, sự hiểu biết và trách nhiệm của cộng đồng, các bên liên quan trước pháp luật vè quy hoạch và quản lý phát triển đô thị.

Đồ án quy hoạch xây dựng đô thị, QHĐT phải là công cụ luật pháp để xử lý thỏa đáng các mối quan hệ giữa phát triển đô thị từ điều tiết sự phát triển của cả hệ thống đến sự phát triển trong từng đô thị các khu vực mới hoặc có tiềm năng hình thành đô thị; cần làm rõ các quy định về bảo tồn và cần nắm vững trọng điểm cần sửa đối trong quá trình phát triển mới. Điều đó được hiểu mọi ý đồ phát triển đô thị cần phải xem xét đầy đủ các khía cạnh phát triển bền vững (quan hệ tác động, phân bố, đồng bộ, cơ chế thực hiện…), và trù tính cẩn thận về mặt chiến lược cũng như các nội dung ưu tiên và bước thực hiện. Trong đó việc lựa chọn chương trình hành động cụ thể thiết thực trước mắt cần được nghiên cứu để triển khai ngay được.

Quy trình và nội dung quy hoạch cần đổi mới theo hướng lồng ghép nội dung phát triển bền vững, ứng phó BĐKH, phát triển đô thị xanh.

Cho dù các mục tiêu phát triển bền vững, ứng phó BĐKH, phát triển đô thị xanh và điều kiện lồng ghép có được đề ra đầy đủ đến đâu, vấn đề quan trọng vẫn là biện pháp lồng ghép vào quá trình lập quy hoạch và kế hoạch phát triển đô thị.

Trước hết, quy hoạch xây dựng vùng và QHĐT bền vững phải trở thành nội dung làm việc thường xuyên của cấp lãnh đạo địa phương. Biện pháp này sẽ khắc phục tình trạng trạng phê duyệt chậm trễ và nội dung quy hoạch đơn điệu.

Đồng thời, phải nâng cao năng lực lập và thực hiện các quy hoạch cho các đơn vị quy hoạch để các cơ sở này có thể lập các phương án quy hoạch có nội dung khả thi, tầm nhìn dài hạn, có hiệu quả thiết thực nhiều mặt, đáp ứng nhanh kế hoạch triển khai quy hoạch phát triển đô thị. Trước mắt, quy hoạch cần tiến hành nhanh và trúng các dự án ưu tiên 5 -10 năm, tạo đà cho phát triển đô thị. Còn các mục tiêu lâu dài cần có tầm nhìn rộng, mang chiến lược.

Để phát huy tác dụng với toàn xã hội, hệ thống quản lý hiện nay cần được xây dựng và chấn chỉnh theo hướng nghiêm túc về các quy định thể chế và mở rộng về cách làm và nội dung để quy hoạch đi vào cuộc sống, sát lợi ích của xã hội. Việc phổ biến kiến thức, thông tin quy hoạch rộng rãi, và khuyến khích đóng góp ý kiến, là các cách để nhà quy hoạch biết đối thoại, lắng nghe và đến gần với người dân hơn.

Thiết lập cơ chế để các thành phần liên quan thường xuyên phối hợp, tránh tình trạng chồng lấn hay sự chia cắt các ngành, cát cứ địa phương, vì quy hoạch cần sự phối hợp chia sẻ của toàn xã hội. Các trang web, triển lãm, hội thảo, họp báo công bố, tờ rơi… là các phương tiện truyền thông rất khả thi và hữu hiệu. Các quy hoạch ngắn hạn và kế hoạch xây dựng cần phù hợp với các kỳ bầu cử Đảng và chính quyền, khuyến khích sự tham gia góp ý của các tổ chức, đồng thời cũng giúp các thể chế này cam kết và cụ thể hơn chương trình hành động cụ thể về phát triển đô thị.

Đối với vấn đề theo dõi, giám sát đánh giá, điều chỉnh quy hoạch, hàng năm cần có các cuộc họp giữa cơ quan quản lý quy hoạch, cơ quan lập quy hoạch, chính quyền địa phương và các bên liên quan (nhà đầu tư, người dân trong khu quy hoạch) để đánh giá đúng sai, tiến độ thực hiện và biện pháp bổ sung khắc phục.

Hỗ trợ tất cả các biện pháp trên có vai trò không nhỏ của việc đổi mới công nghệ, đặc biệt là việc áp dụng công nghệ tin học và hệ thống thông tin địa lý GIS vào quá trình lập, quản lý và theo dõi điều chỉnh quy hoạch. Các thông tin về phát triển đô thị cần được kết nối trực tiếp qua đường dẫn tới cổng điện tử của Chính phủ.

Về quy trình quy hoạch cần tập trung đổi mới các nội dung sau:

Đánh giá đầy đủ điều kiện địa lý và nguồn tài nguyên tự nhiên: Nhiệm vụ này khẳng định các cơ sở để một đô thị tồn tại lâu dài. Kinh nghiệm cho thấy những nơi có điều kiện thời tiết, khí hậu thuận lợi, nguồn nước dồi dào, ít lụt bão thiên tai… cũng là nơi để các đô thị tọa lạc và ngày càng phồn thịnh.

Các phân tích và dự báo phát triển kinh tế – xã hội phải chính xác, đồng bộ, cập nhật góp phần phân tích đánh giá các xu hướng, động lực phát triển kinh tế, tình hình đời sống xã hội và diễn biến dân số đô thị nhằm cụ thể hóa các nhu cầu phát triển không gian mà quy hoạch cần đáp ứng.

Cân đối đất đai và cơ sở vật chất cho các hoạt động kinh tế – xã hội đô thị: Các quỹ đất có thể phát triển đô thị sẽ được cân đối để làm sao vừa đáp ứng cho các thời kỳ phát triển đô thị ngày càng cao, vừa đảm bảo mật độ tiện nghi cần thiết và quỹ đất cho các hoạt động khác. Đồng thời giải pháp nhà ở và các công trình phục vụ công cộng (trường học, bệnh viện, cây xanh công viên…) cũng được hoạch định.

Tổ chức phát triển giao thông đô thị: Nhiệm vụ này nhằm bố trí đủ và hợp lý cho các nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội và đi lại của người dân trong đô thị cũng như với các địa bàn khác và quốc gia. Đồng thời, nó cũng xác định chỉ giới giao thông và hành lang bố trí các hạ tầng kỹ thuật đô thị.

Đảm bảo cung cấp hạ tầng kỹ thuật: Nhiệm vụ này đảm bảo các nhu cầu cấp nước, cấp điện và thoát nước bẩn, các nhu cầu cơ bản và thường xuyên cho sự tồn tại và phát triển của các hoạt động đô thị.

Đảm bảo vệ sinh môi trường: Rác thải đô thị các loại ngày càng nhiều và cần có giải pháp thu gom và xử lý hữu hiệu. Bên cạnh đó là các vấn đề đảm bảo vệ sinh công cộng, đảm bảo yếu tố văn minh đô thị.

Đánh giá tác động môi trường của các giải pháp quy hoạch: Lập quy hoạch và quản lý không tốt sẽ gây ra tác động môi trường không nhỏ. Do đó bản thân người làm công tác quy hoạch cần phải xem xét đầy đủ các tác động bất lợi có thể gây ra cho quá trình phát triển đô thị. Quy chế quản lý thực hiện: Đây là nội dung hướng dẫn thực hiện và quản lý quy hoạch và kiến trúc cảnh quan đô thị. Trong đó, đưa ra cơ chế chính sách phát triển kèm theo các hướng dẫn thiết kế đô thị cụ thể cũng như các công bố, cắm mốc chỉ giới quy hoạch, hướng dẫn thủ tục phê duyệt dự án đầu tư, cấp phép xây dựng …

Quy hoạch và các quy định quản lý đô thị cần được đặt trong hệ thống phối hợp toàn diện

Quy hoạch cần hợp tác với nhiều ngành liên quan. Ví dụ nhu cầu phát triển cơ sở vật chất của các ngành chính là dữ liệu đầu vào cho việc nghiên cứu lập quy hoạch. Các ý đồ tổ chức không gian đô thị – sản phẩm đầu ra của quy hoạch cũng cần sự nắm bắt, phản hồi từ các ngành, để cùng tuân thủ quy hoạch được duyệt.

Bên cạnh đó, quy hoạch cần đặt trong hệ thống phối hợp thống nhất của các vùng miền (vùng núi – đồng bằng, nông thôn – đô thị) của các chủ thể quốc gia và từng địa phương, của các lĩnh vực phát triển kinh tế – xã hội. Quy hoạch và việc quản lý đầu tư xây dựng và quản lý vận hành. Nhờ đó sẽ chấm dứt tình trạng quy hoạch không sát, riêng rẽ – chồng chéo, hoặc quy hoạch có tính hình thức chiếu lệ. Theo đó cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, cần tiếp tục kiên trì nguyên tắc xuyên suốt là quản lý và phát triển đô thị phải phù hợp quy hoạch đô thị. Năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 11/2013/NĐ-CP xác định những nguyên tắc cơ bản để phát triển đô thị, yêu cầu đảm bảo phù hợp với quy hoạch nhưng đồng thời phải có kế hoạch, lộ trình thực hiện cụ thể đối với từng khu vực phát triển đô thị được xác định. Mỗi đô thị cần xác định rõ định hướng phát triển trong mối tương quan tổng thể quy hoạch vùng tỉnh và quốc gia. Từ đó, đề ra các chương trình phát triển đô thị, các khu vực phát triển đô thị để ưu tiên tập trung nguồn lực đầu tư đảm bảo đồng bộ theo lộ tŕnh.

Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu, rà soát, bổ sung hoàn chỉnh hệ thống quy hoạch vùng tỉnh, quy hoạch chung xây dựng các đô thị, các khu chức năng đặc thù, các khu vực dân cư tập trung. Đồng thời, cần nghiên cứu áp dụng các mô hình, tiến bộ khoa học công nghệ trên thế giới trong phát triển đô thị đi đôi với khai thác và phát huy các kinh nghiệm truyền thống về ứng phó với biến đổi của điều kiện tự nhiên. Có những giải pháp đồng bộ, toàn diện phù hợp với bối cảnh và đặc thù riêng của mỗi đô thị.

Phát triển đô thị cần chú trọng việc nâng cao chất lượng, điều kiện sống cho người dân; khai thác đặc trưng văn hóa, lối sống để tạo dựng những mô hình đô thị đặc thù của khu vực. Phát huy tối đa sự tham gia của cộng đồng, huy động được các nguồn lực đa dạng tại chỗ đồng thời sử dụng có hiệu quả hỗ trợ của trung ương và bạn bè quốc tế.

Thứ ba, chú trọng nâng cao năng lực và chất lượng đội ngũ nguồn nhân lực xây dựng và phát triển đô thị đi đôi với cải cách thủ tục hành chính nhằm giải phóng các tiềm năng của đô thị; phát huy sự sáng tạo, thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế trong xã hội, tạo nên sự cân bằng trong nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế địa phương.

Thứ tư, thay đổi và điều chỉnh trong xây dựng và phát triển đô thị để thích ứng với BĐKH. Nguy cơ của BĐKH không chỉ tác động đến riêng một đô thị, một khu vực nào. Từ đô thị lớn trung tâm vùng hay đô thị nhỏ tất cả đều đã và đang chịu tác động và ảnh hưởng. Việc chủ động liên kết và phối hợp hành động mới có thể hạn chế xuống mức thấp nhất những tác động bất lợi, nâng cao khả năng sẵn sàng ứng phó và tạo nên cơ hội tăng trưởng chung cho đô thị các tỉnh và cả nước.

Quy hoạch và chương trình quản lý đô thị cần được xem xét điều chỉnh phù hợp với yêu cầu phát triển mới

Phát triển là quá trình năng động với nhiều diễn biến về nguy cơ cũng như thời cơ khó mà lường hết được. Còn quy hoạch cần bám sát thực tiễn, cần được xem xét thường xuyên để nó có thể được điều chỉnh kịp thời, kế thừa các nhân tố tích cực và khắc phục các yếu tố tiêu cực. Vấn đề này cần lồng ghép ở 2 mức độ:

Hàng năm đánh giá và bổ sung tất cả các quy hoạch hiện hành. Đây là quá trình liên tục đến khi quy hoạch được thực hiện kể cả Chiến lược phát triển đô thị quốc gia, các quy hoạch chuyên ngành hiện hành.

Đánh giá điều chỉnh lại nội dung quy hoạch. Khi ở địa bàn có các thay đổi gây tác động lớn lớn như thiên tai, nhập tách hành chính, cấp hạng, quy hoạch hay dự án cấp vùng quốc gia …

Tất cả các nhiệm vụ trên, nếu được lồng ghép chặt chẽ theo một quy trình thống nhất, chắc chắn sẽ phát huy tác dụng tích cực giúp cho đô thị phát triển bền vững.

Một số nội dung đề xuất nghiên cứu đổi mới

Quy hoạch xây dựng đô thị cần đi trước một bước và mang tính chiến lược hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Bền vững về xã hội: Để đô thị phát triển bền vững, quy hoạch xây dựng đô thị phải phải cân bằng được mọi giá trị văn hóa, tôn giáo, phải bảo đảm đầy đủ các yếu tố xã hội kỹ thuật và dịch vụ thiết yếu. Để đạt được yêu cầu đó, công tác tuyên truyền phải được tiến hành xuyên suốt; chính quyền cần tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để người dân được tham gia quy hoạch và quản lý phát triển đô thị.

Bền vững về tự nhiên: Tiêu chí này dựa trên nguyên tắc quy hoạch phải tạo sự thân thiện với môi trường xung quanh, ứng phó thích nghi với biến đổi khí hậu (BĐKH); thiết lập một thứ tự ưu tiên để có giải pháp thực hiện cụ thể.

Bền vững về kỹ thuật: Thể hiện sự gắn kết quy hoạch hạ tầng kỹ thuật được kết hợp với thiết kế cảnh quan đô thị. Quy hoạch quy định chi tiết tiến độ thi công, đồng bộ các hạng mục, xây trước, xây sau nhịp nhàng và hợp lý. Trong đó lựa chọn công nghệ cũng là điều đáng chú ý. Công nghệ tốt nhất là công nghệ phù hợp với sự tiến bộ, với năng lực vận hành phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội…

Bền vững về tài chính: Công tác phân tích kinh tế – xã hội và tài chính được thực hiện rất nghiêm ngặt ở tất cả các giai đoạn của dự án nhằm tính toán mọi chi phí cần thiết để đầu tư, vận hành, bảo dưỡng, và quản lý.

Quy hoạch cần có vai trò tăng cường điều tiết khống chế vĩ mô nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, sự hiểu biết và trách nhiệm của cộng đồng, các bên liên quan trước pháp luật vè quy hoạch và quản lý phát triển đô thị.

Đồ án quy hoạch xây dựng đô thị, QHĐT phải là công cụ luật pháp để xử lý thỏa đáng các mối quan hệ giữa phát triển đô thị từ điều tiết sự phát triển của cả hệ thống đến sự phát triển trong từng đô thị các khu vực mới hoặc có tiềm năng hình thành đô thị; cần làm rõ các quy định về bảo tồn và cần nắm vững trọng điểm cần sửa đối trong quá trình phát triển mới. Điều đó được hiểu mọi ý đồ phát triển đô thị cần phải xem xét đầy đủ các khía cạnh phát triển bền vững (quan hệ tác động, phân bố, đồng bộ, cơ chế thực hiện…), và trù tính cẩn thận về mặt chiến lược cũng như các nội dung ưu tiên và bước thực hiện. Trong đó việc lựa chọn chương trình hành động cụ thể thiết thực trước mắt cần được nghiên cứu để triển khai ngay được.

Quy trình và nội dung quy hoạch cần đổi mới theo hướng lồng ghép nội dung phát triển bền vững, ứng phó BĐKH, phát triển đô thị xanh.

Cho dù các mục tiêu phát triển bền vững, ứng phó BĐKH, phát triển đô thị xanh và điều kiện lồng ghép có được đề ra đầy đủ đến đâu, vấn đề quan trọng vẫn là biện pháp lồng ghép vào quá trình lập quy hoạch và kế hoạch phát triển đô thị.

Trước hết, quy hoạch xây dựng vùng và QHĐT bền vững phải trở thành nội dung làm việc thường xuyên của cấp lãnh đạo địa phương. Biện pháp này sẽ khắc phục tình trạng trạng phê duyệt chậm trễ và nội dung quy hoạch đơn điệu.

Đồng thời, phải nâng cao năng lực lập và thực hiện các quy hoạch cho các đơn vị quy hoạch để các cơ sở này có thể lập các phương án quy hoạch có nội dung khả thi, tầm nhìn dài hạn, có hiệu quả thiết thực nhiều mặt, đáp ứng nhanh kế hoạch triển khai quy hoạch phát triển đô thị. Trước mắt, quy hoạch cần tiến hành nhanh và trúng các dự án ưu tiên 5 -10 năm, tạo đà cho phát triển đô thị. Còn các mục tiêu lâu dài cần có tầm nhìn rộng, mang chiến lược.

Để phát huy tác dụng với toàn xã hội, hệ thống quản lý hiện nay cần được xây dựng và chấn chỉnh theo hướng nghiêm túc về các quy định thể chế và mở rộng về cách làm và nội dung để quy hoạch đi vào cuộc sống, sát lợi ích của xã hội. Việc phổ biến kiến thức, thông tin quy hoạch rộng rãi, và khuyến khích đóng góp ý kiến, là các cách để nhà quy hoạch biết đối thoại, lắng nghe và đến gần với người dân hơn.

Thiết lập cơ chế để các thành phần liên quan thường xuyên phối hợp, tránh tình trạng chồng lấn hay sự chia cắt các ngành, cát cứ địa phương, vì quy hoạch cần sự phối hợp chia sẻ của toàn xã hội. Các trang web, triển lãm, hội thảo, họp báo công bố, tờ rơi… là các phương tiện truyền thông rất khả thi và hữu hiệu. Các quy hoạch ngắn hạn và kế hoạch xây dựng cần phù hợp với các kỳ bầu cử Đảng và chính quyền, khuyến khích sự tham gia góp ý của các tổ chức, đồng thời cũng giúp các thể chế này cam kết và cụ thể hơn chương trình hành động cụ thể về phát triển đô thị.

Đối với vấn đề theo dõi, giám sát đánh giá, điều chỉnh quy hoạch, hàng năm cần có các cuộc họp giữa cơ quan quản lý quy hoạch, cơ quan lập quy hoạch, chính quyền địa phương và các bên liên quan (nhà đầu tư, người dân trong khu quy hoạch) để đánh giá đúng sai, tiến độ thực hiện và biện pháp bổ sung khắc phục.

Hỗ trợ tất cả các biện pháp trên có vai trò không nhỏ của việc đổi mới công nghệ, đặc biệt là việc áp dụng công nghệ tin học và hệ thống thông tin địa lý GIS vào quá trình lập, quản lý và theo dõi điều chỉnh quy hoạch. Các thông tin về phát triển đô thị cần được kết nối trực tiếp qua đường dẫn tới cổng điện tử của Chính phủ.

Về quy trình quy hoạch cần tập trung đổi mới các nội dung sau:

Đánh giá đầy đủ điều kiện địa lý và nguồn tài nguyên tự nhiên: Nhiệm vụ này khẳng định các cơ sở để một đô thị tồn tại lâu dài. Kinh nghiệm cho thấy những nơi có điều kiện thời tiết, khí hậu thuận lợi, nguồn nước dồi dào, ít lụt bão thiên tai… cũng là nơi để các đô thị tọa lạc và ngày càng phồn thịnh.

Các phân tích và dự báo phát triển kinh tế – xã hội phải chính xác, đồng bộ, cập nhật góp phần phân tích đánh giá các xu hướng, động lực phát triển kinh tế, tình hình đời sống xã hội và diễn biến dân số đô thị nhằm cụ thể hóa các nhu cầu phát triển không gian mà quy hoạch cần đáp ứng.

Cân đối đất đai và cơ sở vật chất cho các hoạt động kinh tế – xã hội đô thị: Các quỹ đất có thể phát triển đô thị sẽ được cân đối để làm sao vừa đáp ứng cho các thời kỳ phát triển đô thị ngày càng cao, vừa đảm bảo mật độ tiện nghi cần thiết và quỹ đất cho các hoạt động khác. Đồng thời giải pháp nhà ở và các công trình phục vụ công cộng (trường học, bệnh viện, cây xanh công viên…) cũng được hoạch định.

Tổ chức phát triển giao thông đô thị: Nhiệm vụ này nhằm bố trí đủ và hợp lý cho các nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội và đi lại của người dân trong đô thị cũng như với các địa bàn khác và quốc gia. Đồng thời, nó cũng xác định chỉ giới giao thông và hành lang bố trí các hạ tầng kỹ thuật đô thị.

Đảm bảo cung cấp hạ tầng kỹ thuật: Nhiệm vụ này đảm bảo các nhu cầu cấp nước, cấp điện và thoát nước bẩn, các nhu cầu cơ bản và thường xuyên cho sự tồn tại và phát triển của các hoạt động đô thị.

Đảm bảo vệ sinh môi trường: Rác thải đô thị các loại ngày càng nhiều và cần có giải pháp thu gom và xử lý hữu hiệu. Bên cạnh đó là các vấn đề đảm bảo vệ sinh công cộng, đảm bảo yếu tố văn minh đô thị.

Đánh giá tác động môi trường của các giải pháp quy hoạch: Lập quy hoạch và quản lý không tốt sẽ gây ra tác động môi trường không nhỏ. Do đó bản thân người làm công tác quy hoạch cần phải xem xét đầy đủ các tác động bất lợi có thể gây ra cho quá trình phát triển đô thị. Quy chế quản lý thực hiện: Đây là nội dung hướng dẫn thực hiện và quản lý quy hoạch và kiến trúc cảnh quan đô thị. Trong đó, đưa ra cơ chế chính sách phát triển kèm theo các hướng dẫn thiết kế đô thị cụ thể cũng như các công bố, cắm mốc chỉ giới quy hoạch, hướng dẫn thủ tục phê duyệt dự án đầu tư, cấp phép xây dựng …

Quy hoạch và các quy định quản lý đô thị cần được đặt trong hệ thống phối hợp toàn diện

Quy hoạch cần hợp tác với nhiều ngành liên quan. Ví dụ nhu cầu phát triển cơ sở vật chất của các ngành chính là dữ liệu đầu vào cho việc nghiên cứu lập quy hoạch. Các ý đồ tổ chức không gian đô thị – sản phẩm đầu ra của quy hoạch cũng cần sự nắm bắt, phản hồi từ các ngành, để cùng tuân thủ quy hoạch được duyệt.

Bên cạnh đó, quy hoạch cần đặt trong hệ thống phối hợp thống nhất của các vùng miền (vùng núi – đồng bằng, nông thôn – đô thị) của các chủ thể quốc gia và từng địa phương, của các lĩnh vực phát triển kinh tế – xã hội. Quy hoạch và việc quản lý đầu tư xây dựng và quản lý vận hành. Nhờ đó sẽ chấm dứt tình trạng quy hoạch không sát, riêng rẽ – chồng chéo, hoặc quy hoạch có tính hình thức chiếu lệ. Theo đó cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, cần tiếp tục kiên trì nguyên tắc xuyên suốt là quản lý và phát triển đô thị phải phù hợp quy hoạch đô thị. Năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 11/2013/NĐ-CP xác định những nguyên tắc cơ bản để phát triển đô thị, yêu cầu đảm bảo phù hợp với quy hoạch nhưng đồng thời phải có kế hoạch, lộ trình thực hiện cụ thể đối với từng khu vực phát triển đô thị được xác định. Mỗi đô thị cần xác định rõ định hướng phát triển trong mối tương quan tổng thể quy hoạch vùng tỉnh và quốc gia. Từ đó, đề ra các chương trình phát triển đô thị, các khu vực phát triển đô thị để ưu tiên tập trung nguồn lực đầu tư đảm bảo đồng bộ theo lộ tŕnh.

Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu, rà soát, bổ sung hoàn chỉnh hệ thống quy hoạch vùng tỉnh, quy hoạch chung xây dựng các đô thị, các khu chức năng đặc thù, các khu vực dân cư tập trung. Đồng thời, cần nghiên cứu áp dụng các mô hình, tiến bộ khoa học công nghệ trên thế giới trong phát triển đô thị đi đôi với khai thác và phát huy các kinh nghiệm truyền thống về ứng phó với biến đổi của điều kiện tự nhiên. Có những giải pháp đồng bộ, toàn diện phù hợp với bối cảnh và đặc thù riêng của mỗi đô thị.

Phát triển đô thị cần chú trọng việc nâng cao chất lượng, điều kiện sống cho người dân; khai thác đặc trưng văn hóa, lối sống để tạo dựng những mô hình đô thị đặc thù của khu vực. Phát huy tối đa sự tham gia của cộng đồng, huy động được các nguồn lực đa dạng tại chỗ đồng thời sử dụng có hiệu quả hỗ trợ của trung ương và bạn bè quốc tế.

Thứ ba, chú trọng nâng cao năng lực và chất lượng đội ngũ nguồn nhân lực xây dựng và phát triển đô thị đi đôi với cải cách thủ tục hành chính nhằm giải phóng các tiềm năng của đô thị; phát huy sự sáng tạo, thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế trong xã hội, tạo nên sự cân bằng trong nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế địa phương.

Thứ tư, thay đổi và điều chỉnh trong xây dựng và phát triển đô thị để thích ứng với BĐKH. Nguy cơ của BĐKH không chỉ tác động đến riêng một đô thị, một khu vực nào. Từ đô thị lớn trung tâm vùng hay đô thị nhỏ tất cả đều đã và đang chịu tác động và ảnh hưởng. Việc chủ động liên kết và phối hợp hành động mới có thể hạn chế xuống mức thấp nhất những tác động bất lợi, nâng cao khả năng sẵn sàng ứng phó và tạo nên cơ hội tăng trưởng chung cho đô thị các tỉnh và cả nước.

Quy hoạch và chương trình quản lý đô thị cần được xem xét điều chỉnh phù hợp với yêu cầu phát triển mới

Phát triển là quá trình năng động với nhiều diễn biến về nguy cơ cũng như thời cơ khó mà lường hết được. Còn quy hoạch cần bám sát thực tiễn, cần được xem xét thường xuyên để nó có thể được điều chỉnh kịp thời, kế thừa các nhân tố tích cực và khắc phục các yếu tố tiêu cực. Vấn đề này cần lồng ghép ở 2 mức độ:

Hàng năm đánh giá và bổ sung tất cả các quy hoạch hiện hành. Đây là quá trình liên tục đến khi quy hoạch được thực hiện kể cả Chiến lược phát triển đô thị quốc gia, các quy hoạch chuyên ngành hiện hành.

Đánh giá điều chỉnh lại nội dung quy hoạch. Khi ở địa bàn có các thay đổi gây tác động lớn lớn như thiên tai, nhập tách hành chính, cấp hạng, quy hoạch hay dự án cấp vùng quốc gia …

Tất cả các nhiệm vụ trên, nếu được lồng ghép chặt chẽ theo một quy trình thống nhất, chắc chắn sẽ phát huy tác dụng tích cực giúp cho đô thị phát triển bền vững.

(Theo TS.KTS. Trần Thị Lan Anh/TCKTVN)