Sách “Văn hóa Kiến trúc” của GS Hoàng Đạo Kính

588

Ngập trong bể tri thức văn hóa kiến trúc đầy cảm luận này, thật khó để có vài lời súc tích giới thiệu quyển sáchVăn hóa Kiến trúc dày gần 500 trang cùng bạn đọc.

Khó ở độ rộng các lĩnh vực mà tác giả, GS.TS.KTS Hoàng Đạo Kính, đề cập trong quyển sách. Từ hiện trạng và các vấn đề lý luận, ứng xử và phát hiện trong Bảo tồn di sản kiến trúc mà Anh (xin được gọi là anh) đề cập; đến câu chuyện Văn hóa kiến trúc-đô thị mênh mông thấm đẫm hồn người hồn đất, quền quện chất tư duy và sáng tạo nghệ thuật; đến những thân phận “ngõ phố đời người”, thân phận biệt thự và cây xanh ngàn lần ta đi qua, nhìn mà không thấy. Từ Thủ đô Hà Nội mở rộng với 3340 km2 đến các đô thị tỉnh lỵ, đô thị biển; tới “những điều nho nhỏ” như đá lát vỉa hè, hàng rào tường rào trong phố, “con mắt-cửa hàng” của phố hay những ẩn niệm “nem cua bể Cát Tần”, “gánh phở Đảo ngõ Tạm Thương”…lần lượt được Anh đưa ra cho người đọc thưởng ngoạn, chiêm nghiệm, thụ cảm và suy nghĩ.

Một “bữa tiệc đời”, nhiều mà không chán.

Và Làng Việt, chao ôi! Đọc sách Anh sao mà thương mà bùi ngùi cho làng quê ta, song cũng ngộn đầy những ẩn tưởng tạo hình cho giới nghề và cho nghệ thuật nói chung. Những con đường làng, cấu trúc không gian làng, cổng làng, đình và chùa làng, hàng dậu chè tàu và những con sông bến nước…cái còn cái mất, nhưng giá trị trong văn hóa Việt thì vĩnh viễn trường tồn. Anh nói “ Văn hóa làng, kiến trúc làng là những biểu hiện sâu và đậm của nền văn minh ăn ở trong cộng đồng, của nền kiến trúc Việt. Làng rèn đúc, gạn chắt, duy trì và phát triển, chậm chạp và bền vững, những trụ cột, những truyền thống và giá trị vật chất lẫn tinh thần của người Việt, qua mọi biến hóa của lịch sử”.

Khó ở độ sâu của những lý luận Bảo tồn di sản kiến trúc mà Anh nêu ra hoặc đề xuất. GS.TS.KTS Hoàng Đạo Kính cho người đọc biết một cách rạch ròi, minh hiển các cặp khái niệm: phế tích – di sản – di tích, thế nào là bảo quản, gia cố, tu sửa; thế nào là phục hồi, phục nguyên, tôn tạo…Anh đề cao và khăng khăng bảo vệ giá trị của “cái nguyên gốc”, “cái duy nhất”. Anh kêu gọi “Hãy giữ cho di tích thuộc hẳn về quá khứ”; rằng “Nếu không duy trì được giá trị lịch sử, trùng tu trở thành vô nghĩa”…Đó là những trang chữ thâm minh của nghề nghiệp hay là… những trang đời chằng chịt dấu vết bàn chân Anh trong những năm đầu khai mở công cuộc bảo tồn di sản kiến trúc Chăm, kiến trúc Huế, di sản Hội An, rồi, gần đây làng cổ Phước Tích?

Gần 500 trang về Văn hóa kiến trúc và Phát triển đô thị tiếp nối đã xuyên suốt hầu hết các thang bậc và vấn đề của Văn hóa kiến trúc-đô thị. Từ những khái lược về sự phát triển của kiến trúc Việt đến những hòn đá tảng của kiến trúc nước nhà như: Bản sắc kiến trúc Việt, Phê bình và Sáng tạo kiến trúc, dạy nghề và hành nghề kiến trúc, sử dụng vật liệu xây dựng…được trình bày ngắn gọn và dung dị, dễ hiểu với đời và dễ nhớ với nghề. Ngôi nhà Việt, con phố Việt thẩm qua Anh đã không chỉ là những bản thể tự nó mà là những tầng sắc giá trị văn hóa, những triết luận dân gian về tồn tại, những căn cơ dung hòa của con người và tự nhiên.
Lần theo các trang chữ này, các định hướng phát triển tiếp nối, những thế mạnh điểm yếu, cái duy nhất cần nâng niu, các tài nguyên cần kiệm dụng, các giá trị cần níu giữ… của các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, Vũng Tàu, Thanh Hóa, Buôn Ma Thuột hay các đô thị Hội An, Sơn Tây, Nam Định, Vĩnh Long…được hiển minh, giúp người đọc nắm bắt dễ dàng và nhanh chóng cái đời, cái thể, cái hình, cái hồn của các quần cư đô thị nước nhà.

Là người cùng với Anh trong thời gian dài thực hiện các hội thảo quốc gia về đô thị, tôi hiểu tính nghiêm cẩn của Anh với tri thức đô thị. Thời gian Anh còn phụ trách chuyên môn trong Hội KTS VN, hàng loạt các hội thảo quốc gia về đô thị được thực hiện, từ Thái Nguyên, Bắc Ninh, Yên Bái đến Ninh Bình, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang hay Vũng Tàu, Vĩnh Long, Đà Lạt, Buôn Ma Thuột…Anh cùng các chuyên gia địa phương và trung ương cày xới các vấn đề đô thị, đề xuất các giải pháp chỉnh trang và phát triển đô thị, đánh giá và tôn vinh các giá trị văn hóa kiến trúc – đô thị. Qua những tác nghiệp này, Anh nêu lên những khái niệm “Quỹ kiến trúc đô thị”, “Đô thị di sản”, “Đô thị hàng tỉnh”, “Chủ nghĩa hình thức cơ chế”, “Thiết kế đô thị can thiệp”…Dẫu còn phải bàn luận, song rõ ràng đó là những chất kết dính hiếm hoi góp phần tạo dựng bộ khung lý luận và phê bình kiến trúc – đô thị nước nhà, vốn đang rất còm cỏi.

Những trang viết đó không phải là những chuyên luận đi sâu mà là những nhận cảm tinh tế, những nắm bắt chính xác, những kết luận súc tích và các đề xuất giản dị khả thi. Nhiều lúc, những nhận cảm và nắm bắt của Anh được chuyển thành ngôn từ như những ngạn ngữ, châm ngôn, cách ngôn của đời. Anh nói: “Nhà không dựng từ móng từ cột/ Nhà dựng từ nếp nghĩ, nếp sống”; “Để Giàu mất vài năm; để Sang mất vài đời”. Hay “Quản lý không chỉ là ngăn sông đắp đập, quản lý phải là sự điều tiết khéo léo dòng chảy”, “Chớ để tư duy ngõ ngách chi phối tư duy nhà chiến lược”… Đó là những trang viết rút ruột mà có.

Chắc có lẽ vậy mà phần cuối của tập sách Anh dành cho “Nơi chốn – Thời buổi – Con người”, cái phần say hồn đất, ngất tình đời và miên man hoài niệm. Nhiều bài viết trong đó, theo tôi, là kiệt xuất về văn hóa kiến trúc Việt. Không chỉ là những niệm cảm về nguồn cội bạc phơ, cổng làng, con ngõ cái ngách, thân phận biệt thự, nơi chốn thân quen của Hà Nội cũ và mới – tôi xếp lại chữ của Anh, ở đó còn có cái mộc mạc tự thân, xộc xệch tự nhiên đáng yêu và duyên dáng của người quê đất làng; chất phong lưu nhẹ thênh của thị dân, chất phiêu lãng mờ sương của rừng thông Đà Lạt, chất dĩ vãng nặng trịch đọng trong đá của đền tháp Angkor. Nhưng thâm tình hơn cả là những bài viết của Anh dành cho những con người mà anh cảm trọng và yêu quý: Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt – nhà lãnh đạo kiến thiết, người Anh cả của kiến trúc sư cả nước; các bậc tiền bối của kiến trúc Việt Nam hiện đại như kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện, Huỳnh Tấn Phát, Hoàng Như Tiếp; hay bạn Anh, đồng nghiệp của Anh, kiến trúc sư Kazic con người “cởi trần, đi chân đất, da đỏ như tôm hấp” mà cả đời tận tụy với di sản văn hóa Việt Nam. Họ đã đi xa rồi. Những trang chữ như những nén hương lòng.Văn của Anh ngắn gọn mà giàu hình ảnh, tri thức và cảm nhận được tải bằng cách ví. Anh nói “nhà mà như cái ấm ủ”, “Cái sự phong lưu, tưởng nhẹ như gió, vậy mà sâu thăm thẳm” hay “cửa hàng – con mắt của phố”, hay “Cổng, với sức nặng bản thân và thời gian, thấp lùn dần – nó mọc ngược xuống đất”. Tinh tế, chính xác và rất nặng lòng…Lối sắp chữ hình tượng đó làm cho nội dung chuyên môn nhập tâm rất tự nhiên, dễ cảm, dễ nhớ, hợp với mọi đối tượng. Chữ của Anh sắc lẹm, tỉnh khô mà da diết. Những “tổ người”, “ngõ phố người đời”, “nguồn cội bạc phơ”, “thân phận biệt thự”, “di sản – mồ côi”… đọc lên sao cứ thấy bâng khuâng, là lạ mà quen quen như đồ vật trong nhà mình. Lẫn trong các bài chuyên luận hay nhận xét là các đoạn tản văn lúc nao lòng, lúc nhẩn nha kể chuyện, khi thì thâm trầm ẩn ức, khi thì tếu táo bông đùa. Đọc lên không quên được, mà hạ hỏa cái đầu khi dung nạp quá nhiều thông tin. Tất cả chất văn đó, lối đẻ chữ độc lạ đó, cách khảm nạm các tản văn trong các chuyên khảo sâu rộng đó làm nên văn thức Hoàng Đạo Kính trong lý luận và phê bình văn hóa kiến trúc Việt Nam đương đại.

Văn hóa kiến trúc” – NXB Tri Thức, là quyển sách thứ ba của GS.TS. KTS Hoàng Đạo Kính sau các quyển: “Di sản văn hóa, bảo tồn và trùng tu” – NXB Văn hóa-Thông tin (2002), “Ngõ phố người đời” – NXB Văn học (2008). Nếu quyển đầu là “quyển nghề”, quyển thứ là “quyển văn”, thì quyển này là “quyển trí”. Anh đã khéo chọn các nhà xuất bản cho các đầu sách của mình. Hơn ngàn trang chữ đó chưa tải hết tri thức uyên thâm, tâm niệm cháy đượm và cảm nhận tinh nhã của con người Anh, một người được đào tạo bài bản và thành danh trong nghề, trong đời.

Anh gọi Bộ Văn hóa – Thông tin là “ông từ” quốc gia. Tôi gọi Anh là “người giữ đền” của văn hóa kiến trúc trong đời.

KTS Nguyễn Luận (Nguồn Ashui.com)

Cuốn sách “Văn hóa Kiến trúc” hiện có bán tại tầng 1 – Văn phòng Hội Kiến trúc sư VN, 23 Đinh Tiên Hoàng, Hà Nội – Giá: 250.000 VNĐ.

1 BÌNH LUẬN