Kien Viet 16-03-2012, 07:00 #

Đô thị hóa và các chính sách phát triển đô thị tại Việt Nam

Khu-do-thi-phu-my-hung-khupho-My-Khanh

Đô thị Việt Nam chuyển biến tích cực cả về lượng và chất, mạng lưới đô thị quốc gia đã và đang phát triển mạnh mẽ. Đến nay, cả nước có 760 đô thị (trong đó có 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP.HCM, 11 đô thị loại I, 11 đô thị loại II, 47 đô thị loại III và 54 đô thị loại IV và hàng trăm đô thị loại V), tỷ lệ đô thị hoá đạt trên 31%.

Tăng đều “chất” và “lượng”

Với mức tăng trưởng kinh tế trung bình ở khu vực đô thị từ 12 – 15% (cao gấp 1,5 – 2 lần so với mặt bằng chung cả nước), nguồn thu đô thị, nhất là các TP lớn, chiếm tỷ lệ 70 – 75% trong cơ cấu GDP cả nước, đô thị nước ta đã và đang có nhiều đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế của đất nước, tạo ra hàng triệu việc làm cho người lao động, góp phần quan trọng trong việc duy trì sự ổn định và phát triển chung của xã hội.

Sự phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam từ sau khi Chính phủ ban hành chính sách đổi mới đã đem lại những nguồn lực quan trọng cho việc xây dựng và cải tạo chỉnh trang diện mạo đô thị. Kiến trúc – cảnh quan đô thị được chính quyền đô thị quan tâm đầu tư phát triển với sự xuất hiện ngày càng nhiều quần thể kiến trúc, mảng đô thị hiện đại, ứng dụng công nghệ thiết kế, xây dựng tiên tiến của thế giới. Đi đôi với việc tạo dựng ngày càng nhiều công trình kiến trúc cao tầng, các KĐTM hiện đại, đồng bộ thì công tác cải tạo, chỉnh trang, bảo tồn các giá trị di sản kiến trúc đô thị được coi trọng, góp phần duy trì và tạo dựng bản sắc của đô thị.

Chất lượng cuộc sống người dân đô thị từng bước được cải thiện, diện tích nhà ở bình quân đầu tăng gấp 3, đạt trên 18m2/người. Mô hình đầu tư phát triển các KĐTM đồng bộ được nhân rộng tại nhiều địa phương, sử dụng hiệu quả quỹ đất dành cho phát triển đô thị, từng bước giải quyết nhu cầu rất lớn của xã hội về nhà ở. Trong đó, tập trung mạnh về cơ chế chính sách đầu tư nhà ở xã hội đặc biệt cho các nhóm người nghèo, người có công cách mạng, nhà ở công nhân, nhà ở sinh viên…

Hệ thống công trình hạ tầng đô thị như hệ thống giao thông, cấp nước, thoát nước… được đầu tư xây dựng, cải tạo và phát triển khá nhanh, tạo bộ khung cơ bản để các đô thị phát triển. Trên 70 – 80% số dân đô thị đã được cấp nước sạch; một số đô thị đã có nhà máy hoặc trạm xử lý nước thải; tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt bình quân cả nước đạt khoảng 80%. Nhiều địa phương đang tập trung nguồn vốn ODA để đầu tư xây dựng nâng cấp hạ tầng kỹ thuật đô thị như dự án đường sắt trên cao tại Hà Nội, dự án tàu điện ngầm tại TP.HCM, các tuyến giao thông huyết mạch…

Trong thời gian qua, đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển xã hội, Quốc hội, Chính phủ, Bộ Xây dựng và các bộ, ngành đã và đang từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực xây dựng và phát triển đô thị, trong đó nhiều văn bản luật lần đầu tiên được nghiên cứu, xây dựng, ban hành như Luật Xây dựng năm 2003, Luật Nhà ở năm 2005, Luật Kinh doanh BĐS năm 2006 và Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, từ 2010 đang tiến hành nghiên cứu soạn thảo Luật Đô thị và nghị định quản lý đầu tư xây dựng để tăng cường công tác quản lý phát triển đô thị.

Đổi mới quá trình kiểm soát

Bên cạnh những mặt tích cực, thì phát triển đô thị tại Việt Nam còn một số hạn chế cần khắc phục như tỷ lệ phủ kín quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết tại các đô thị của cả nước còn thấp, trung bình đạt khoảng 45%, không đồng đều giữa các đô thị và vùng, miền; Tốc độ tăng trưởng và đô thị hóa cao tại nhiều đô thị dẫn đến sự mất cân đối trong khả năng đáp ứng của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị; Tình trạng úng ngập, tắc nghẽn giao thông tại đô thị còn diễn ra phổ biến…

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Điều chỉnh định hướng quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn 2050” với mục tiêu chiến lược: Từng bước xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đô thị Việt Nam phát triển theo mô hình mạng lưới, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội phù hợp, đồng bộ, hiện đại, có môi trường và chất lượng, đô thị sống tốt, có nền kiến trúc đô thị tiên tiến giàu bản sắc, có tính cạnh tranh cao trong phát triển kinh tế – xã hội quốc gia và quốc tế. Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ về hạ tầng giao thông, hạ tầng cung cấp điện, hạ tầng thuỷ lợi và ứng phó với biến đổi khí hậu… để đô thị phát triển đồng bộ, hiện đại, giải quyết cơ bản những vướng mắc trong quá trình phát triển đô thị.

Nhằm đổi mới quá trình kiểm soát phát triển đô thị đảm bảo thuận lợi và phát triển bền vững, một số giải pháp về thể chế chính sách, huy động vốn đầu tư, áp dụng khoa học và công nghệ cần được quan tâm đẩy mạnh trong thời gian tới. Ngoài đổi mới cơ chế, chính sách phát triển đô thị trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, quản lý quy hoạch, quản lý nhà, đất; quản lý đầu tư xây dựng, quản lý khai thác sử dụng công trình đô thị, cần tiếp tục nâng cao vai trò chức năng, quyền hạn của các đơn vị trong Bộ, các sở, ngành phụ trách về xây dựng tại địa phương… Hình thành hệ thống quỹ đầu tư phát triển hạ tầng đô thị, mở rộng nguồn thu và phương thức thu, xây dựng cơ chế phát triển hạ tầng đô thị bằng nhiều nguồn vốn theo hướng khuyến khích sự tham gia của các khu vực ngoài nhà nước, đồng thời đổi mới công tác quản lý đất đai và phát triển thị trường BĐS; hoàn chỉnh và đổi mới chính sách về nhà và đất đô thị để tạo thêm nguồn lực phát triển đô thị.

Hợp tác quốc tế, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào cải tạo, xây dựng và hiện đại hóa đô thị; xây dựng chính quyền đô thị điện tử; hình thành hệ thống lưu giữ phân tích cơ sở dữ liệu về phát triển đô thị bằng hệ thống GIS cần được đẩy mạnh. Nhiều mô hình phát triển đô thị đã và đang được áp dụng tại nhiều nước tiên tiến trên thế giới như đô thị sinh thái – ECO City, đô thị kinh tế sinh thái – ECO2 City, đô thị thông minh – Smart City… cần được nghiên cứu áp dụng phù hợp tại các vùng miền ở Việt Nam.

PGS.TS Đỗ Tú Lan – TS Trần thị Lan Anh
Theo Báo xây dựng



comments powered by Disqus