Kiến trúc làng trong tâm thức người Việt

196

Cấu trúc làng truyền thống với những với những yếu tố điểm như con đê, cổng làng, đình làng, cây đa, bến nước, những nhà vườn – ao khép kín hài hòa, cân bằng với môi trường thiên nhiên, là những đặc trưng cần được bảo lưu và hoàn thiện trong tiến trình phát triển mới

Qua đình ngả nón trông đình / Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu…”

Quê tôi là vùng đất bãi sông Hồng. Mẹ kể, tôi sinh vào một ngày đông muộn. Bà đỡ đã tắm cho tôi bằng thứ nước sông Hồng đã được đánh phèn để bớt đi cái mầu phù sa đỏ quạch. Thuở ấy, với tôi, khái niệm về quê hương cứ nhạt nhòa, xa vời vợi… bởi suốt tuổi thơ tôi lớn lên trong lòng Hà Nội.

Hình ảnh về làng quê với mái đình, con đê, bến sông… đến với tôi chỉ qua những chuyện kể của bà, những bài ca dao trên ghế nhà trường mà thầy giáo già dạy tôi thường ngâm nga, tựa như: Qua đình ngả nón trông đình / Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu.

Hay những câu thơ của cha tôi: Ngày Xuân trai gái trong thôn / Sang đò trẩy hội trống dồn năm canh / Đò sang lặng gió không trành / Mấy cô nghiêng bóng soi mình sửa ngôi. (Đò chiều – Xuân Thiêm ).

Vậy mà, như mảnh đất phù sa bồi đắp theo tháng năm, hình ảnh về quê hương, về cái nôi tôi sinh cứ dầy lên rõ nét, sâu đậm dần cùng với vốn sống, sự hiểu biết của một người đến độ trưởng thành…

Nghề kiến trúc đã cho tôi cơ hội đi nhiều, đến với nhiều vùng miền của đất nước. Để cho tôi được trở về, với niềm đau đáu, đam mê … mong tìm thấy ở làng quê nhỏ bé của mình nói riêng và của nông thôn nói chung một cái gì đấy, giản dị thôi, mà sao lại có sức hấp dẫn đến vậy.

Dẫu rằng, vùng quê nơi tôi đến hay trở về vẫn còn nghèo lắm, rất nghèo so với những đổi thay đến chóng mặt nơi phồn hoa đô thị trong nền kinh tế thị trường ngiệt ngã.

Dấu ấn của kiến trúc làng là gì?

Giáo sư kiến trúc Đặng Thai Hoàng, một người có những kiến giải sâu sắc về kiến trúc đô thị thường trăn trở nói với tôi, đô thị của chúng ta, kể cả các thành phố lớn như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh đều thiếu những “điểm nhấn” hay “Yếu tố điểm” (Landmarks).

Mà theo ông, “Landmarks” là hình ảnh gây ấn tượng cho con người với đô thị, nó tạo ra sự nhận biết về phương hướng, vị trí trong thành phố hoặc trong khu vực. Đó là một loại ký hiệu của cấu trúc đô thị như tháp Eiffel (Paris – Pháp), tháp truyền hình Tower ở Toronto (Canada), tòa tháp đôi Petronas ở Kuala Lumpur (Malaysia)… Tôi đồng ý với nhận xét của ông. Đấy là về đô thị. Còn kiến trúc nông thôn, mà tôi gọi là kiến trúc làng, thì cái cột mốc hay yếu tố điểm kia là cái gì?

 

Đường làng quanh co… 

Tôi đã dự nhiều cuộc hội thảo khoa học của các nhà quản lý, của giới quy hoạch, kiến trúc, được nghe nhiều lý luận cao siêu, chung chung có tiếng kêu gọi khi bàn về kiến trúc nông thôn của nhiều vị thức giả. Nhưng những nghiên cứu có tính thực tiễn thì vẫn hiếm hoi lắm!

Trên thế giới, không quốc gia nào lại không tồn tại hai môi trường cư trú: Đô thị và Nông thôn. Mà đã có nông thôn là có làng. Nhưng có lẽ, không ở đâu có cấu trúc làng như ở nước ta – Làng Việt. Một kiểu làng đặc trưng của đồng bằng Bắc bộ, sản phẩm của nền văn minh lúa nước, canh tác lạc hậu với “con trâu đi trước, cái cày theo sau”.

Làng Việt truyền thống có cấu trúc không lớn. Làng nằm kề cánh đồng, ruộng lúa, sở hữu của cư dân trong làng. Làng nọ cách làng kia cũng bởi cánh đồng làng.

Từ hàng nghìn đời nay, mối quan hệ xã hội trong làng chủ yếu là thứ quan hệ “ Gia đình – họ hàng – làng nước”. Có nhà nghiên cứu dân tộc học cho rằng, làng là sự mở rộng của huyết thống, nước thì xa hơn, nhưng cũng chung một cội nguồn.

Có phải vì thế chăng mà trong lịch sử Việt Nam, các vị vua thường xưng “Tổ” hoặc “Tông” như: Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông… cũng bởi từ cội nguồn và huyết thống. Nói như vậy để thấy vị trí của làng quan trọng đến thế nào trong xã hội Việt Nam truyền thống.

Cấu trúc không gian của làng không phức tạp, nhưng cũng không đơn giản đến mức đơn điệu. Ở đồng bằng Bắc Bộ, hầu như làng nào cũng có lũy tre xanh bao bọc, dù làng nằm trong đê hay ngoài đê (ngoài bãi).

Lũy tre ken dầy bởi lớp lớp cây tre, măng tre… như bức tường thành che chở cho làng khi có cướp, có giặc ngoại xâm, là nơi cung cấp vật liệu cho làng làm nhà, làm công trình công cộng và bao vật dụng sinh hoạt hằng ngày.

Muốn vào làng phải đi qua cổng làng. Cổng làng xưa thường xây bằng gạch, nhiều làng ở vùng trung du và xứ Đoài – Hà Tây (nay đã sáp nhập với Hà Nội) thì xây bằng đá ong, liên kết bằng vôi, vữa trộn với mật mía và muối rất chắc chắn. Qua cổng làng là con đường làng lát gạch nghiêng hình mu rùa.

Từ đây, ta sẽ bước vào thế giới làng với hệ thống đường ngang, ngõ tắt như xương cá, mà đường làng là xương sống. Nhưng dù đi đến đâu, thì nhà nào nhà nấy cứ mở cổng ra là gặp ngõ, qua ngõ là đường làng. Năm này qua năm khác, thế hệ sau nối tiếp thế hệ trước, tất cả đều đi trên đường làng và đi qua cổng làng.

Ai đấy đã ví, cổng làng như một nhà ga, ở đó có đợi chờ, có chia ly, có nước mắt em nhạt nhòa trong chiều muộn tiễn người yêu lên đường đi xa, có dáng mẹ gầy xiêu xiêu suốt một đời tần tảo nuôi con, chờ chồng đằng đẵng suốt cuộc chiến tranh.

Giáo sư Hoàng ơi! Với tôi và có thể cả với ông, cái cổng làng bình dị ấy sao không thể là một “Cột mốc”, một “Yếu tố điểm” quan trọng trong cấu trúc làng!

 

Một góc Mông Phụ Đường Lâm 

Trong làng, ngôi Đình có vị trí tâm linh đặc biệt. Đình làng không chỉ là nơi thờ Thành hoàng làng, mà còn là nơi sinh hoạt chung của cộng đồng. Nhà văn Ngô Tất Tố đã từng cho rằng, nếu như làng là xã hội Việt Nam thu nhỏ thời phong kiến, thì Đình là hình ảnh của làng.

Nơi đây diễn ra những cuộc họp của bô lão trong làng, trong họ tộc, từ chuyện làm lễ lên lão cho nhà này, phạt vạ nhà kia có con gái không chồng mà chửa… cho đến những việc đại sự như đón sắc phong của vua ban, hội đình, tất tật đều được diễn ra ở sân Đình và theo lệ của làng.

Đình làng với kiến trúc đặc sắc từ kỹ thuật dựng lắp đến nghệ thuật chạm khắc trên các hệ vì, bẩy, kẻ đã trở thành tinh hoa của nghệ thuật kiến trúc truyền thống. Nhà trong làng hầu hết là nhà tranh vách đất, sau này đời sống khá hơn là tường gạch, mái ngói. Bố cục nhà trong làng gần như giống nhau, có nhà chính, nhà phụ. Nhà chính thường ba gian hai chái và có hiên rộng.

Hiên được che bởi một lớp dại đan bằng tre có thể tháo lắp dễ dàng, vừa kín đáo trong sinh hoạt, vừa tiện mở rộng không gian khi cần thiết, ngăn gió lạnh về mùa đông, che bớt cái nắng gắt chói chang của mùa hè. Nhà chính là nơi ở, nơi thờ cúng tổ tiên, ông bà, nơi tiếp khách.

Hai chái nhà thường được xây kín không mở cửa sổ, là nơi để đồ, hoặc dành làm chỗ ngủ cho đàn bà con gái. Nhà phụ là bếp, chuồng lợn, gà. Nhà chính, nhà phụ thường bố cục theo hình chữ L, ôm lấy cái sân rộng. Trước sân là một ao nhỏ được tạo nên bởi quá trình vật đất tôn nền làm nhà, chung quanh bờ ao thường trồng cây lưu niên.

Cấu trúc nhà trong làng giản dị, nhưng rất hài hòa với môi trường thiên nhiên trong lành, có ao cá, vườn cây… Chả thế mà nhiều vị quan khi về hưu, cởi bỏ mũ mão cân đai trở về làng vui thú điền viên là vậy.

 

Những mái nhà đỏ san sát trong làng cổ Việt Nam

Theo Baothaibinh