Christopher Alexander & cuộc tìm kiếm bản chất phức tạp của đô thị

106

Christopher Alexander là một nhân vật kiệt xuất của kiến trúc, quy hoạch đô thị và khoa học máy tính trong nửa cuối thế kỉ 20 và đầu thế kỉ 21. Không chỉ  nổi tiếng trong lĩnh vực nghiên cứu ông còn là tác giả của hơn 200 công trình trên các châu lục, quy mô từ nhà ở đến những khu đại học hay các cộng đồng rộng lớn.

kv-chrisalexander-110518-5.jpg

Trước khi vào các tác phẩm và công trình nổi tiếng của ông, chúng ta hãy điểm qua những gì khiến ông thanh một trong những nhân vật độc đáo nhất của nửa cuối thế kỉ 20 và đầu thế kỉ 21 này. Đầu tiên phải kể đến sự thay đổi nghề nghiệp khá đặc biệt đối với một kiến trúc sư, một nhà nghiên cứu đô thị: ông nhận được học bổng vào chương trình cử nhân kiến trúc tại Đại học Cambridge lừng danh, đồng thời ông cũng hoàn thành thạc sĩ toán tại đây. Tuy nhiên không thỏa mãn cách giảng dạy kiến trúc tại Cambridge ông đã sang Mỹ và được nhận vào khoa kiến trúc đại học Havart. Tốt nghiệp với tấm bằng thạc sĩ kiến trúc đầu tiên của đại học này Alexander cũng đồng thời nhận được huy chương Vàng đầu tiên của hội kiến trúc sư Mỹ cho thành tích nghiên cứu. Đó chính là luận văn tiến sĩ của ông sau này đã được biên tập thành tác phẩm đầu tay  xuất sắc “ ghi nhận về tính chất tổng hợp của hình thức” ( Notes on the synthesis of  form)(1964). Vậy con người toán học này đã soi sáng gì vào kiến trúc và quy hoạch đô thị. Chúng ta hãy bắt đầu với tác phẩm đầu tay của ông.

Ban đầu ông coi vấn đề nghiên cứu về tính chất phức tạp của kiến trúc và đô thị chỉ như một khám phá khoa học, nhưng rồi vấn đề sự phức tạp của thành phố đã trở thành sứ mạng gắn suốt cuộc đời ông. Ông dã dành hầu như cả đời mình cho việc giải quyết  và thực nghiệm các giải pháp cho vấn đề phức tạp của thành phố  mà ông gọi là phương pháp generative. Trong tác phẩm đầu tay “ghi nhận về tính chất tổng hợp của hình thức” Alexander cho rằng quá trình phi – tự nhận thức là ổn định và có khả năng thích ứng với những thay đổi, trong khi đó quá trình tự nhận thức về bản chất là dễ mắc phải sai lầm và yếu kém trong việc đương đầu với những thay đổi. Ở đây chúng ta hiểu quá trình phi – tự nhận thức là một quá trình hình thành từ trí tuệ tập thể trong các xã hội truyền thống, còn quá trình tự nhận thức được hiểu như cách mà nhà thiết kế chuyên nghiệp tạo ra sản phẩm. Trong các nền văn hóa phi – tự nhận thức, người ta không cần phải có trí sang tạo, mới hoạt động được, họ không cần phải cải tiến hình thức của sản phẩm, điều họ cần là điều chỉnh hệ thống (chẳng hạn cái cày không cho phép cày đủ sâu).

kn-cautrucphahe-110518-3.JPG
 Enshin Campus, Nhật Bản. Một trong các công trình kiến trúc được thiết kế trên nguyên tắc generative và ngôn ngữ kiểu mẫu Nguồn: Building

Vì vậy các nền văn hóa phi – tự nhận thức có được tính chất tự thích ứng với thay đổi và có khả năng loại bỏ sai sót trong hệ thống. Khác hẳn thế, công việc của nhà thiết kế chuyên nghiệp là công việc của cá nhân tự nhận thức mà trong đó họ làm việc với “hình ảnh” trong tâm trí mình rồi cố gắng hình thành khái niêm công năng và hình thức, cũng như mối quan hệ của chúng. Không may là bức tranh này thường sai lầm bởi lẽ người thiết kế không có khẳ năng xử lý tính chất phức tạp của hệ thống. Để chứng minh cho lý luận của mình Alexander đã sử dụng công cụ toán khá phức tạp để biện giải cho những ai còn nghi ngờ. Ông kết luận rằng để thành công nhà thiết kế hiện đại của chúng ta phải cố gắng hoạt động trong một hệ thống mà sự thích ứng sảy ra từng bộ phận, mỗi bộ phận tương đối độc lập với bộ phận khác, và chúng phải tìm ra vị trí đúng của mình như cách thức hợp lý để kiến tạo hình thức sau thành công của “ghi nhận về sự tổng hợp của hình thức” Alexander lại được cộng đồng kiến trúc và quy hoạch thế giới biết thêm với bài báo gắn liền với tên tuổi của ông “thành phố không phải là cây phả hệ” trong bài báo sắc sảo này Alexander đã chỉ ra sự khác nhau giữa thành phố tự nhiên và thành phố nhân tạo. Trong khi các thành phố tự nhiên có cấu trúc mà chúng tôi tạm dịch là bán phủ chồng (semi-lattice) có các thuộc tính như các mối liên hệ chồng lấn, có sự không chắc chắn, có tính đa dạng. Thành phố nhân tạo lại tuân theo cấu trúc của cây phả hệ vốn phân chia cấu trúc thành các đơn vị nhỏ, rồi sau đó thành các đơn vị nhỏ hơn ở cấp thấp hơn.
Kết quả của thành phố nhận tạo trong quy hoạch đô thị là chúng phân chia thành phố thành các vùng khu biệt lập: khu vực dành cho thương mại, khu vực dành cho dân cư… Lý do để thành phố nhân tạo phổ biến trong xã hội hiện đại chúng ta bởi vì trí tuệ con người có xu hướng giảm tính nhập nhằng và chồng lấn các  thành phần thành một cây phả hệ. Nhưng tương phản với cấu trúc cây phả hệ là cấy trúc bán phủ  chồng của thành phố nhận tạo luôn mang theo sự sống và các kiểu mẫu bền vững cho môi trường xây dựng. Cấu trúc bán phủ chồng cũng đảm bảo chế độ tế vi và phức tạp cho định dạng đô thị (Alexander,1964).

 kn-cautrucphahe-110518-1.JPG

Cấu trúc bán phủ chông: sơ đồ b là sơ đô đơn giản của sơ đồ a, trong đó sự liên hệ giứa các tập hợp được minh hoạ bằng các đường nối. Ở đây cấu trúc (234) và (345) cả hai đều thuộc về nhóm chung (34). Nguồn: Alexander, 1964.

 

 kn-cautrucphahe-110518-2.JPG

Cấu trúc cây phả hệ: Không có sự chồng lấn nào giữa các đơn vị. Nguồn: Alexander, 1964

Còn trong tác phẩm nổi tiếng đồng thời cũng là cuốn sách về kiến trúc bán chạy nhất mọi thời đại “ một ngôn ngữ kiểu mẫu”(0977), Alexander và các đồng sự giới thiệu một thứ ngữ pháp mới cho kiến trúc và quy hoạch. Ngôn ngữ này dựa tên các kiểu mẫu, mà chúng chính là các thiết kế thường lặp lại bản thân có khả năng thích ứng để tạo nên các giải pháp thiết kế mới. Trong số 253 kiểu mẫu, có nhiều kiểu mẫu liên quan mật thiết với cảm xúc con người, có thể nói chúng trở thành công cụ để mọi người dựng lên cấu trúc của mình không phân biệt văn hóa và cấu trúc địa lý. Ví dụ kiểu mẫu 167 được gọi là ban công rộng 6 foot(khoảng 1,8 met) Alexander và cộng sự đưa ra đề nghịxây dựng những ban công có độ sâu ít nhất là 1,8 mét để tạo nên môi trường nghỉ ngơi thật sự ấm cúng cho chủ nhà (Alexander et lr, tr. 781 – 784). Hay ở kiểu mẫu được gọi là “chữa lành nơi chốn” ông đề suất rằng một công trình mới phải làm thế nào để giảm tác động của nó gây ra, muốn vậy công trình phải được xây dựng ở nơi xấu nhất của địa điểm, không phải nơi đệp nhất, bằng cách đó không những hạn chế được tác động xấu của môi trường mà cón có thể cải thiện được địa điểm (0977,tr.508 – 512). Lần lần những ý tưởng và ngôn ngữ của chúng được Alexander và các đồng tác giả phát triển thêm trong tác phẩm  tiếp theo “ Một lý thuyết mới về thiết kế đô thị”.

kn-cautrucphahe-110518-4.JPG
 Enshin Campus, Nhật Bản. Một trong các công trình kiến trúc được thiết kế trên nguyên tắc generative và ngôn ngữ kiểu mẫu Nguồn: Building 

Trong tác phẩm này Alexander và đồng sự đã cố gắng cung cấp một giải pháp trong thiết kế và quy hoạch. Nội dung chính của cuốn sách là nhấn mạnh vào quá trình – đó là một chuỗi những hành động để tạo ra một tổng thể cố kết cho cấu trúc đô thị (hay nói theo cách của Alexander là tạo ra một  toàn thể – wholeness). Alexander và các đồng tác giả còn đi xa hơn khi cho rằng thiết kế đo thị không nên đi theo con đường thông thường, đó là tạo ra các bản quy hoạch. Họ khẳng định rằng thiết kế là một quá trình lặp đi lặp lại của tiến hóa, sao cho cấu trúc thích ứng với tính chất phức tạp của các điều kiện đô thị với dự tham gia của nhiều tác nhân. Trong khi chúng ta có thể nói rõ trước các chỉ tiêu thiết kế ngay từ đầu, vai trò của kiến trúc sư và nhà quy hoạch không phải là xác định hình dạng cuối cùng, mà họ phải tạo điều kiện để quá rình này phát  sinh ra hình thức (Mehaffy, 2008). Để kiểm nghiệm gải pháp của mình Alexander và các đồng tác giải mô phỏng quá trình xây dựng dựa trên 7 nguyên tắc mà họ sáng tạo. Những nguyên tắc này tạo ra cái toàn thể cho quá trình phát triển của đô thị và dựa trên sự cộng tác của những đối  tác khác nhau – họ là những sinh viên sau đại học tham gia vào quá trình đóng vai, với các vai trò nhà đầu tư bất động sản, kiến trúc sư,công dân, nhà quán lý và các thành phần khác. Quá rình này khá giống như quá trình tham dự của công dân trong thiết kế mà nhiều nhà thiết kế như Jane Jacobs – người bắn phát pháo đầu tiên cho việc nhận thức về tính đa dạng  của thành phố và là nhà tiên đoán sự ra đời của khoa học  và các hệ thống phức tạp trong đô thị – đã luôn tìm kiếm. Tuy vậy Alexander  và các đồng tác giả đều thừa nhận rằng  họ chưa giải quyết thấu đáo những điều  kiện thực của quá trình phát triển đô thị như thị trường bất động sản, luật lệ quy hoạch. Thêm vào đó chất lượng thiết kế vẫn còn là sự thỏa hiệp giữa tính chất cố kết, tính chất hướng cố và tính hình thức (Alexander,1987).

Sau khi xuất bản tác phẩm “một lý thuyết mới về thiết kế đô thị” Alexander đã dành 30 năm để phát triển thêm về quá trình genitive. Theo lý thuyết này, nói một cách ngắn gọn các quá trình phát triển lần lần mà trong đó hoạt động xây dựng tương lại phải tôn trọng  tình trạng và điều kiện hiện tại của cấu trúc đô thị. Tại mỗi bước những người cộng tác sẽ cố gắng phát triển và tăng cường tính toàn thể của cấu trúc dựa trên phản hồi từ hệ thống mà họ đang giải quyết,họ sẽ hiệu chỉnh và cố gắng cải thiện tính cố kết hoặc tính toàn thể một lần nữa. Bạn đọc nếu có kiến thức về sinh học có thể có ấn tượng rằng quá trình có vẻ gì đó tương tự quá trình biến đổi hình thức (morphogenesis ) đối với sự phát triển của động và thực vật mà trong đó các cơ thể chuyển đổi về hình thức và cấu trúc của chúng, nhưng luôn duy trì thuộc tính của bản thân chúng ( chẳng hạn trong quá trình biến hình, một con sâu bướm sẽ trải qua những hình thức khác nhau nhưng nó vẫn luôn là con sâu bướm hay con bướm tùy vào giai đoạn phát triển, chứ không phải là con chim!) Alexander gọi quá trình này là quá trình bảo toàn cấu trúc và dành phần lớn trong bộ cuốn của tác phẩm “ bàn về tự nhiên tính của trật tự” nhằm gải thích 15 thuộc tính của quá trình phát triển này (Alexander,2002).

Nguyễn Hồng Ngọc


Unself-conscious process: tạm dịch là quá trình phi tự nhận thức.

[i] Tạm dịch từ ‘Site repair’, ở đây Alexander và đồng sự muốn nói đến quá trình xây dựng phải nhằm đến việc chữa lành, cải thiện dần dần nơi chốn.

[ii] Quá trình đóng vai: role playing

[iii] Collective intelligence: tạm dịch là trí tuệ tập thể, trí tuệ của tập thể cùng cộng tác thường lớn hơn trí tuệ của từng cá nhân

[iv] A city is not a tree: tạm dịch là thành phố không phải là cây phả hệ.

Tài liệu tham khảo :

Alexander, Christopher (1964) Notes on the Synthesis of Form. Cambridge, MA: Harvard University Press.

Alexander, C., Ishikawak, S., Silverstein, M., Jacobson, M., Fiksdahl-King, I. and Angel, S. (1977) A Pattern Language. New York, NY: Oxford University Press.

Alexander, C., Neis, H., Anninou, A. and King, I., 1987. A new theory of urban design. New York, NY: Oxford University Press.

Alexander, Christopher (2002) The Nature of Order. Berkeley, CA: The Center for Environmental Structure.

Building Living Neigborhood (2011) http://www.livingneighborhoods.org/ht-0/eishincollege.htm

Jacobs, Jane (1961) The Death and Life of great American cities. New York, NY: Vintage.

Mehaffy, Michael W. (2008) Generative methods in urban design: a progress assessment. Journal of Urbanism: International Research on Placemaking and Urban Sustainability, 1 (1), pp. 57-75.

Theo TCXD số 02-2011