Các chuyên đề Danh bạ Hội viên Hội KTSVN Danh bạ Công ty Danh bạ Sản phẩm Giới thiệu sách Diễn đàn Tìm kiếm
17-05-2011 05h00

Các nguyên tắc quy hoạch phát triển đô thị thông minh

Trào lưu phát triển đô thị thông minh(Smart growth) là  một trong những xu hướng quy hoạch và phát triển đô thị mạnh mẽ tại Hoa Kỳ trong vài thập niên qua, nhằm khắc phục các nhược điểm của quá trình phát triển đô thị tràn lan. Quá lệ thuộc vào ô tô và khuyến kích sử dụng ô tô cá nhân, chiều theo thị hiếu muốn sở hữu các căn nhà dạng biệt thự  mật độ thấp tương đối tách biệt ở ngoại ô…để hướng tới những ngôi nhà hiệu quả hơn. Thân thiện hơn, tăng khả năng và nhu cầu giao tiếp của người dân, tiết kiệm hơn nguồn lực tư nhiên và xã hội .

kv-Smart Growth-110517-2.jpg

Trong trào lưu mạnh mẽ đó, Duany plater – Zyberk và công ty (DPZ) đã xây dựng bộ quy hoạch đô thị thông minh (Smartcode) nhằm nâng cao sự lành mạnh, an toàn và công bằng trong các đô thị, bao gồm: bảo vệ môt trường bảo vệ các nguồn lực về đất đai, năng lượng và các nguồn lực tự nhiên khác, giảm thiểu tắc nghẽn giao thông, sử dụng hiểu quả hơn các nguồn lực công cộng, tạo không gian đi bộ lành mạnh hơn, bảo tồn các giá trị lịch sử, đảm bảo không gian cho giáo dục và nghỉ ngơi, hạn chế phát triển tràn lan và nâng cấp không gian đô thị nói chung.

Bộ tiêu chuẩn đã đưa ra các mô đun thiết kế điển hình cho quy mô một đô thị, một khu vực công cộng, một ô phố và các công trình xây dựng. Tương ứng các quy mô này ở Việt Nam là quy mô của đồ án quy hoạch chung, quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết.

Các tiêu chuẩn thiết kế cụ thể xây dựng khác nhau, và thường kèm theo yêu cầu khi sử dụng phải phù hợp và làm nổi bật các điều kiện riêng của mỗi khu vực, nhưng những nguyên tắc căn bản được đề xuất trong bộ tiêu chuẩn phát triển đô thị thông minh của Duany plater – Zyberk và Công ty là những đúc kết rất cần được tham khảo, suy ngẫm và nỗ lực thực hiện trong bối cảnh quy hoạch của Việt Nam hiện nay. Bao gồm 3 nhóm nguyên tắc sau:

I.Nguyên tắc cần được bảo đảm trong quy hoạch phát triển đô thị

1.Cần duy trì, khôi phục và tôn tạo được các hệ sinh thái tự nhiên cũng như những cảnh quan đặc trưng tự nhiên được tạo bởi địa hình, các vùng lâm nghiệp, nông nghiệp, hành lang ven sông và các dải ven biển…


Nguyên tắc này được Smartcode đưa lên hàng đầu cho thấy thái độ coi trọng đối với các giá trị sinh thái tự nhiên, nông, lâm nghiệp. Để thực hiện được nguyên tắc này, các đồ án quy hoạch đô thị cần tiến hành nghiên cứu , đánh giá, nhận diện hệ sinh thái tự nhiên, các cấu trúc cảnh quan đặc trưng tạo nên bởi điạ hình các vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, hành lang ven sông và các dải ven biển… Trước khi đánh giá đất xây dựng thuận lợi, cần xác định các vùng cảnh quan và hệ sinh thái đặc trưng cần bảo vệ. Hay nói cách khác, cần đánh giá những vùng cấm và hạn chế xây dựng trước rồi xác định các khu đất có thể xây dựng đô thị.

2.Quy hoạch và chiến lược phát triển cần chú trọng việc cải tạo, nâng cấp, xen cấy trong các khu vực hiên hữu song song với việc phát triển các khu vực mới.

Đây cũng là một nguyên tắc rất quan trọng trước tình trạng hầu hết các đô thị của Việt Nam đều quá chú trọng tới việc phát triển các khu đô thị mới và xem nhẹ thậm chí bỏ rơi các khu đô thị hiện hữu. Trong khi các khu đô thị hiện hữu là nơi chứa đựng những giá trị văn hóa, nhân văn và các tiềm lực kinh tế đa dạng của đô thị. Vấn đề chính của các khu đô thị hiện hữu tại Việt Nam thường là thiếu cơ sở hạ tầng và thiếu không gian công cộng. Để cải tạo và nâng cấp các khu đô thị hiện hữu điều kiện cần là chính quyền đô thị phải nhận rõ trách nhiệm của mình trong vấn đề này và tích cực thúc đẩy cũng như trực tiếp tổ chức thực hiện các hành động cải tạo nâng cấp. Việc cải tạo nâng cấp các khu đô thị hiện hữu thường mang lại lợi ích và cơ hội cho nhiều thành phần dân cư, trong khi các khu đô thị mới thường chỉ có thể phục vụ cho một số ít các nhóm đối tượng nào đó trong xã hội.

3.Các khu vực phát triển kề cận đô thị cần được kết nối với các khu đô thị hiện hữu cả về hạ tầng và cảnh quan.

Đây là một quy tắc mang tính hiển nhiên và được khẳng định trong Quy chuẩn xây dựng Việt Nam về quy hoạch xây dựng, nhưng lại thường xuyên bị bỏ qua. Đặc biệt là trong trường hợp chủ đầu tư phát triển các khu vực phát triển mới là đơn vị tổ chức lập quy hoạch. Trong rất nhiều trường hợp khác, mặc dù đồ án có đưa ra các giải pháp kết nối giữa các hạ tầng và cảnh quan giữa các khu vực phát triển mới với các khu vực hiện hữu, nhưng các giải pháp này không được chính quyên chú trọng thực hiện, cùng với việc buông lỏng và yếu kém trong quản lý, các khu vực hiện hữu dần bị cô lập, bao vây bởi các khu phát triển mới và tình trạng ngày càng trở nên khó khăn, các giải pháp kết nối ngày càng trở nên không khả thi nhất là các đô thị lớn.

4.Những khu vực phát triển mới không kề cận với đô thị cần được tổ chức thành các khu đô thị hoàn chỉnh.

kv-smart_growth-110517.gif

Nguyên tắc này là tối cần thiết đảm bảo sức sống cho các khu phát triển mới không kề cận với đô thị hiện hữu, kể cả các đô thị vệ tinh. Việc phát triển các khu đô thị hoàn chỉnh, cho dù có mối quan hệ tương tác với các đô thị khác trong vùng, giúp gia tăng tính đa năng (một trong những yêu cầu thiết yếu để phát triển bền vững) cho đô thị, giảm nhu cầu giao thông giữa khu vực này với các đô thị khác.Việc phát triển một khu vực không kề cận với các đô thị hiện hữu cần khai thác được các mối lien hệ và tiềm năng mang lại cho sự kết nối với các đô thị khác trong vùng, đồng thời phải giảm thiểu đến mức thấp nhất các nhu cầu giao thông không gắn với mối liên hệ vùng.

5.Nhà ở phù hợp với khả năng chi trả của đa số người dân phải được phát triển đan xen trong tất cả các khu đô thị, phù hợp với sự phân bố dân cư và việc làm, tránh hiện tượng tập trung các hộ nghèo vào một khu vực.

Nhà ở là lĩnh vực chính của đô thị. Cách thức và hiệu quả phát triển nhà ở có thể quyết định sự thành công của đô thị. Nguyên tắc nêu trên là rất rõ ràng, thể hiện rõ mục tiêu và  phát triển đô thi, nhưng lại rất khác với cách mà các đô thị Việt Nam đang xây dựng các khu đô thị mới cũng như xây dựng xen cấy vào các khu đô thị cũ.

6.Các hành lang giao thông cần được quy hoạch và bảo vệ trong mối quan hệ qua lại hợp lý với quy hoạch sử dụng đất hai bên tuyến.

kv-walkingstreet-110517-4.jpg

Đây cũng là một nguyên tắc rất rõ rang và từng được nhắc tới nhiều trong lĩnh vực quy hoach đô thị của Việt Nam. Mối quan hệ giữa việc khai thác giao thông phục vụ phát triển hai bên đường và đảm bảo chức năng giao thông của tuyến là mối quan hệ hai chiều và nhiều khi là mâu thuẫn. Việc thiếu kiển soát dẫn tới những dải công trình hẹp bám theo tuyến làm giảm hiệu quả của tuyến, thậm chí trở thành rào cản phát triển các quỹ đất phía sau. Đồng thời việc khai thác dọc tuyến cần đảm bảo vừa kết nối thuận lợi không gian hai bên tuyến những nơi cần thiết, vừa đảm bảo chức năng giao thông của tuyến.

Yếu tố cảnh quan của tuyến cũng cần được quan tâm, nhưng giá trị cảnh quan của tuyến không nằm ở độ lớn của tuyến như quan niệm phổ biến hiện nay tại Việt Nam, cũng khó tạo ra những cảnh quan đẹp bởi những dải cây cảnh trồng theo ngôn ngữ nhân tạo dọc theo dải cách ly, thậm chí tạo sự nhàm chán và phản cảm. Cần chú trọng hơn tới giá trị của cây xanh bóng mát gắn với đường giao thông.

Cần quan tâm tới một nguyên tắc “ đường càng lớn tốc độ giao thông càng nhanh thì giá trị đất hai bên đường càng giảm”. Vai trò của giả phân cách, từ chỗ giúp cho xe có động cơ chậy nhanh hơn và được trang trí để làm giảm đi vẻ cứng nhắc xấu xí đã được nâng thành yếu tố cảnh quan không thể thiếu trong rất nhiều đô thị Việt Nam. Có thể do ảnh hưởng của các khu đô thị cũ không được cải tạo nâng cấp thỏa đáng, thường thiếu hạ tầng, đặc biệt đường giao thông, nên nhiều nhà quy hoạch, đặc biệt nhiều nhà quản lý đô thị cho rằng những tuyến đường đôi hoành tráng với dải phân cách trồng cây cảnh ở giữa là biểu tượng của đô thị hiện đại và là biểu tượng của tầm nhìn xa, dự trữ cho tương lai. Hiện tượng này lãng phí rất lớn về kinh phí và quỹ đất, tạo hình ảnh đơn điệu và lặp lại trong các đô thị của Việ Nam. Thức chất các trục đường quy mô lớn, không phù hợp với quy mô đô thị này đang phá vỡ rất nhiều đô thị. Các vấn đề về kích thước tỉ lệ, sự tương tác giữa giao thông và các hoạt động của đô thị, hơn bao giờ hết, đang là những điểm yếu trầm trọng trong đa số các đô thị Việt Nam.

Bài toán bảo đảm giao thông có thể phục vụ ở những quy mô khác nhau tại những thời điểm khác nhau trong tương lai có thể được giải quyết bằng cách dự báo quy mô luồng giao thông để xác định  bề rộng lộ giới đường, két hợp với sự phân kì đầu tư và kết hợp các giải pháp giao thông khác, không chỉ đơn giản là xây dựng những con đường thật lớn để chờ đợi sử dụng trong tương lại hàng chục năm sau.

7.Các hành lang cây xanh – không gian mở cần được sử dụng để định dạng những khu vực phát triển đô thị cũng như kết nối cấu trúc đô thị khác nhau.

Đây là một nguyên tắc rất quan trọng, có thể có là một phần của hệ quả của việc thực hiện nguyên tắc thứ nhất và nguyên tắc thứ ba.

Bao gồm hai vấn đề: xác định các ranh giới phát triển đô thị và kết nối các khu vực này với nhau  bằng hệ thống cây xanh -  không gian mở. Vấn đề thứ nhất bị bỏ qua trong nhiều đồ án quy hoạch. Rất phổ biến là một khu chức năng đô thị hoặc công nghiệp mới là một nhát cắt, một sự chiếm hữu không gian tùy tiện trong một vùng cảnh quan nông nghiệp, lâm nghiệp nào đó, hoăc hệ sinh thái tự nhiên, gần như không quan tâm tới cảnh quan hiện trạng. Từ đó khái niệm “đất kẹt” (thường là những  mẩu đất nông nghiệp nằm kẹt lại giữa khu cũ và khu mới, sau khi những khu đô thị hoặc khu công nghiệp được quy hoach và xác định ranh giới ) trở nên rất phổ biến. Rất nên suy nghĩ về giải pháp sử dụng các giải không gian mở để kết nói với khu đô thị mới và cũ, một sự kết nối mềm, nhấn mạnh được giá trị thị giác của các ranh giới và các cấu trúc đặc trưng (cũ và mới) , có thể giúp giải quyết các vướng mắc hình học, đồng thời tạo ra không gian giao lưu xã hội.

8.Hệ thống giao thông cần chú trọng giao thông cộng cộng, đường đi bộ, đường đi xe đạp là những lựa chọn có thể thấy thế và giúp hạn chế nhu cầu sử dụng phương tiện giao thông cá nhân có động cơ.

Trong nguyên  tắc này việc nhắc đến giao thông công cộng, đường đi bộ, đường dành cho xe đạp như là những ưu tiên, còn giao thông cá nhân có động cơ là đối tượng cần hạn chế là vấn đề đáng suy nghĩ sâu sắc trước thực tế quy hoạch giao thông ( chủ yếu là các làn xe cho phương tiên có động cơ) dường như là những nội dung quan trọng nhất và được quan tâm nhiều nhất trong các đồ án quy hoạch, là đối tượng nghĩ đến trước hết khi cầm bút vẽ,không chỉ của các kĩ sư giao thông mà cả các kiến trúc sư. Và nội dung về giao thông công cộng, đường đi xe đạp dường như chỉ là nội dung thêm vào cho đủ thành phần hồ sơ và thường được nghĩ đến sau khi đã vẽ xong mạng lưới đường hoàn chỉnh. Còn đường đi bộ thường được quan tâm như giải trí hơn là nhu cầu thiết yếu hàng ngày.

II.Các nguyên tắc cần được đảm bảo trong quy hoạch phân khu

1.Các đơn vị ở và các khu trung tâm đô thị phải được phát triển dạng nén, ưu tiên cho đi bộ và được sử dụng đa chức năng.

kv-SmartGrowth-110517-3.jpg

Dạng nén ở đây được hiểu không nhất thiết là xây dựng cao tầng, điều quan trọng là tạo được sự sầm uất, thuận lợi cho giao lưu cộng đồng thuận lợi cho các hoạt động dịch vụ đô thị, tăng hiệu quả hoạt động chung của đô thị.Mật độ dân cư cao cũng là yếu tố thuận lợi để tổ chức giao thông công cộng, từ đó cùng với các tuyến đi bộ thuận tiện, giúp cho hoạt động đi bộ trở nên phổ biến. việc sử dụng đa chức năng đã xuất hiện tại Việt Nam từ rất lâu, như là một nhu cầu thiết yếu của xã hội, kể cả các quy định về sử dụng đất trong các đồ án quy hoạch chỉ là đơn năng.Cho đến nay, trong lĩnh vực quy hoạch trên toàn thế giới, sử dụng hỗn hợp đa chức năng một cách hợp lý ở mọi cấp độ, từ cấp độ đô thị đến khu vực,đến khu đất, đến công trình đã được khẳng định là một trong những yêu cầu thiết yếu để đảm bảo sức sống đô thị, đảm bảo phát triển bền vững. “độ thẩm thấu” của không gian công cộng trong tòa nhà đã trở thành tiêu trí được quan tâm trong rất nhiều trường hợp.

2.Cần ưu tiên hình thức phát triển theo các đơn vị truyền thống và các khu trung tâm đô thị đa năng, các khu vực đơn chức năng chỉ được chấp nhận với những lý do đặc biệt.

Mô hình phát triển theo đơn vị truyền thống  là mô hình khá phổ biến ở Việt Nam trước đây, nhưng khi đó về mặt lý thuyết các khu trung tâm đô thị đều được xác định là đơn năng và thường không đan xen với chức năng nhà ở. Nguyên tắc thứ hai này kết hợp với nguyên tắc thứ nhất sẽ giúp nhấn mạnh sự cần thiết và ưu tiên cho việc sử dụng hỗn hợp đa chức năng một cách hợp lý và nhấn mạnh tính ưu việt của việc tổ chức các khu dân cư theo đơn vị ở bán kính phục vụ của các công trình phục vụ thiết yếu hàng ngày nằm trong khoảng cách thuận lợi cho đi bộ -  điều chỉ có thể dạt được khi mật độ dân  cư là tương đối tập trung. Trước đây, việc phân chia các khu đô thị thành các khu đơn vị ở là bắt buộc, nhưng với việc chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường và sự lấn át của các dự án phát triển đô thị mới do khối tư nhân đảm trách, vấn đềt tổ chức theo đơn vị ở không còn được coi trọng đầy đủ, thậm trí bị bỏ qua trong rất nhiều đồ án.

3.Các hoạt động cơ bản  hằng ngày cần được đáp ứng  trong bán kính đi bộ để khuyến khích đi bộ và giảm thiểu nhu cầu sử dụng phương tiện giao thông.

Nguyên tắc thứ 3 kết hợp với nguyên tắc thứ 2 sẽ đảm bảo môi trường sống thuận lợi trong các khu dân cư và khuyến khích đi bộ (trong phạm vi gần ), sử dụng giao thông công cộng khi có nhu cầu giao lưu vượt ra ngoài phạm vi ở.

4.Hệ thống các trục đường lớn cần được thiết kế bảo đảm khả năng phân tán giao thông, giảm thiểu chiều dài hành trình của các phương tiện.

5.Trong mỗi đơn vị ở phải đảm bảo sự đa dạng về loại hình nhà cũng như mức giá nhà để đảm bảo sự đa dạng về đối tượng sinh sống trong đơn vị ở.

6.Mật độ xây dựng cũng như loại hình sử dụng đất cần được quy hoạch hợp lý trong vòng bán kính đi bộ xung quanh các bến đỗ giao thông công cộng.

7.Các trung tâm thương mại, hành chính, đào tạo, dịch vụ… cần được đan xen trong đô thị, không bố trí thành các khu biệt lập.

8.Trường học cần được bố trí với quy mô và bán kính đảm bảo học sinh có thể đi bộ hoặc đi xe đạp đến trường.

9.Mạng lưới không gian mở, bao gồm: công viên, quảng trường và sân chơi công viên cần được bố trí phân tán trong các khu dân cư cũng như trong các khu trung tâm.

   II. Các nguyên tắc cần đảm bảo trong quy hoạch chi tiết:

  1. Các công trình và cảnh quan cần góp phần  tạo dựng nên trục tuyến giao thông chính như là những không gian dân dụng.
  2. Các công trình cần đáp ứng yêu cầu giao thông ô tô một cách hợp lý đồng thời tôn trọng , tạo thuận lợi cho giao thông đi bộ cũng như khu cảnh quan của các không gian công cộng.
  3. Thiết kế các tuyến đường và công trình cần đảm bảo môi trường an toàn, nhưng không hạn chế khả năng tiếp cận.
    69777_urban landscape design ins img 1.jpg
  4. Thiết kế kiến trúc và cảnh quan cần xuất phát từ những đặc trưng về khí hậu, địa hình, lịch sử và những thức ti n kinh nghiệm xây dựng tại mỗi khu vực.
  5. Công trình cần đưa ra các ấn tượng rõ ràng cho người sử dụng về địa lý và khí hậu thông qua các giải pháp hiệu quả năng lượng.
  6. Các công trình công cộng và không gian giao lưu công cộng phải là nơi tạo ấn tượng đặc trưng của đô thị, đồng thời là các không gian có thể quản tốt.
  7. Việc bảo tồn và cải tạo các công trình di tích cần bảo đảm củng cố liên tục và quá trình phát triển của xã hội.
  8. Sự hài hòa và trình tự phát triển, biến đổi của đô thị cần được kiểm soát thông qua các chỉ tiêu về cấu trúc hình thái kiến trúc.

Tác giả :Ths.KS.Phạm Thị Huệ Linh - Theo TCXD số 02/2011


Thái Linh tổng hợp

Tham khảo:

- Livable Communities & Smart Growth - Robert santos

- Smart Growth Clashes with Storm Water Regulations -

- Smart Growth and its Effects on Housing Markets: The New Segregation-Randall J. Pozdena

- Study calls Md. smart growth a flop - Lisa Rei

 


© Hội Kiến trúc sư Việt Nam (VAA) - Thành viên Liên hiệp Hội KTS Quốc tế (UIA),
Hội đồng KTS Châu Á (ARCASIA) và Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam
Trụ sở: 23 Đinh Tiên Hoàng, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội