Các chuyên đề Danh bạ Hội viên Hội KTSVN Danh bạ Công ty Danh bạ Sản phẩm Giới thiệu sách Diễn đàn Tìm kiếm
17-06-2008 10h00

Những mô hình chuyển đổi ( Phần 1 )

Những mô hình chuyển đổi Phần 1/ Phát triển khái niệm công trình với biển quảng cáo

Steven Song là một kiến trúc sư trẻ ở NYC người đã viết một bài báo có tên là "Những mô hình chuyển đổi: phát triến khái niệm công trình với biển quảng cáo." Nó khai thác những lý thuyết được bàn luận trong cuốn sách mới nhất của Robert Venturi và Denise Scott Brown, Kiến trúc là những ký hiệu và hệ thống: Dành cho thời kỳ Kiểu sức (Mannerist), một lần nữa nói đến tính chất kép của Kiến trúc: biểu hiện và nơi trú ẩn trong thời kỳ hậu công nghiệp thông tin. Học tập từ những sự phát triển gần đây trong công nghệ thông tin và những đồ dùng điện tử cá nhân, và cân nhắc sự tăng mật độ dân số ở đô thị và ngoại ô, bài báo này gợi ý rằng những thay đổi này thúc đẩy việc định nghĩa lại các thuật ngữ: bối cảnh, biểu hiện, nơi trú ẩn và những mối quan hệ của chúng với nhau, nếu coi kiến trúc là nhằm để đáp ứng lại với những lối sống mới và những nhu cầu ngày nay.

Biển hiệu, nơi cư trú và bối cảnh trong kiến trúc Dù người ta có thể cho rằng trong số những kiến trúc sư có ảnh hưởng nhất cuối thế kỷ 20, Robert Venturi và Denise Scott Brown đã khám phá và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học tập từ phong cảnh địa phương để hiểu hơn về bối cảnh xã hội, văn hóa và công nghệ hiện tại. Trong cuốn sách viết năm 1872 Học hỏi từ Las Vegas, Venturi và Scott Brown thừa nhận cặp đối ngẫu của kiến trúc- vai trò của nó như cả 'nơi cư trú' trong nội tại và 'biển hiệu' của nó trong các khía cạnh giao tiếp, trang trí, thông tin và biểu tượng. Dựa trên các báo cáo của họ về hành trình tới thành phố Las Vegas bằng ô tô (automobile-oriented), họ đã tạo ra khái niệm kết hợp 'công trình với biển quảng cáo' i (Hình 1).

Lễ kỷ niệm 'học tập từ' tiếng địa phương, đặc biệt văn hóa Pop những năm 1960, đã dẫn đến khái niệm chung về chúng là 'hậu hiện đại'. Bài viết này đánh giá lại lý thuyết của Venturi và Scott Brown và nghiên cứu ý nghĩa và tiềm năng của chúng trong một bối cảnh đương đại thông qua một bài đọc về biểu hiện gần đây những ý tưởng của họ trong cuốn sách hợp tác mới nhất Kiến trúc là Những ký hiệu và hệ thống:dành cho thời kỳ kiểu cách. ii

image
Hình 1 - Bức phác họa mảnh đất Las Vegas những năm 1970 và "Công trình với biển quảng cáo' trong Học hỏi từ Las Vegas

Cuốn sách này đề cập lại cặp đối ngẫu kiến trúc 'biển hiệu' và 'nơi cư trú', giới thiệu ý tưởng về những hình mẫu hoạt động lồng ghép như là một công cụ thiết kế nhằm tìm thấy các hình thức (vật lý ) từ các điều kiện xã hội, ủng hộ việc đánh giá lại những khái niệm của chúng ta về bối cảnh trong kiến trúc, và bàn luận về mối quan hệ giữa hình thức và sự linh hoạt của chức năng, sau cùng lại ủng hộ kiến trúc kiểu sức uốn cong các quy tắc ở thời đại hậu công nghiệp thông tin ngày nay. (Hình 2)

Những ý tưởng này liên quan tới xã hội đương thời, ở đó những sự phát triển nhanh chóng của côn nghệ thông tin và các công nghệ nhận cảm giác làm lu mờ đi ranh giới của những không gian dân dụng, công cộng, và riêng tư, phủ nhận chủ nghĩa giáo điều của một hệ thống giá trị cứng nhắc, một thước đo thẩm mỹ đã định hình, hay một chức năng trong một không gian tĩnh. Không giống như kiến trúc theo chức năng luận ở cấp nông cạn của chủ nghĩa Tân Hiện đại (Neo-Modernism) hay phong cách biểu hiện mạnh mẽ của chủ nghĩa Phi kết cấu, lảng tránh sự đối thoại kiến trúc thích đáng về lịch sử và văn hóa, Venturi và Scott Brown gợi ý những phương pháp để hiểu về xã hội đương đại vừa là những hình mẫu cá nhân cũng như cá nhân, đồng thời ca tụng kiến trúc như là một phần cốt yếu của sự phức tạp.

Qua một nghiên cứu của những mô hình xã hội và công nghệ hiện nay và những ảnh hưởng của chúng với xã hội, nghiên cứu này đề xuất rằng sự thay đổi trong những điều kiện này lại đòi hỏi phải có một định nghĩa lại về 'bối cảnh', 'nơi cư trú' và 'biển hiệu', bao hàm cả chiều rộng, sự linh hoạt và tương tác cần phải có như mối quan hệ tay ba tiếp tục mở rộng trong kiến trúc ngày nay.

image
Hình 2 - Kiến trúc là những ký hiệu và hệ thống và tác giả của nó

Bối cảnh: Chuyển đổi những mô hình xã hội, công nghệ và không gian

Venturi và Scott Brown xem xét các khía cạnh không gian và hệ thống của kiến trúc phần nào thông qua một cuộc thảo luận về bối cảnh. Theo Scott Brown, bối cảnh trong kiến trúc có rất nhiều hình thức-- không chỉ mô hình vật lý mà cả mô hình văn hóa xã hội của không gian thời gian. Bối cảnh vừa ảnh hưởng đến kiến trúc và vừa bị ảnh hưởng bởi nó. iii

Ở bất kỳ nền văn hóa nào, mô hình xã hội xác định giá trị của nó và cơ sở hạ tầng công nghệ nhằm hỗ trợ cho các hoạt động không thể tách rời được của nó iv. Như Manuel Castells viết, "công nghệ là xã hội và xã hội không thể hiểu được hay được biểu hiện mà không có những công cụ công nghệ của nó".

Sự lựa chọn You Tube.com của tạp chí Time , một không gian ảo và là sản phẩm không hữu hình,là một phát minh tốt nhất của năm 2006 là biểu hiện của sự thay đổi từ mô hình xã hội đã được thiết lập của thời đại công nghiệp cũ sang thời đại thông tin mới vi(Hình 3) Sự phát triển của công nghệ thông tin và những thiết bị cảm nhận cá nhân như mạng internet, điện thoại di động, iPod và thiết bị chơi game Sony PSP, đã đem đến cho xã hội khả năng thay đổi một cách lập tức và tiện lợi cảm nhận về không gian của những người sử dụng nó . (Hình 4)

Thậm chí trong một không gian công cộng hay dân dụng, một người sử dụng điện thoại di động có thể có những cuộc đối thoại cá nhân và riêng tư cao với người sử dụng khác còn ẩn danh ở nơi công cộng. Ngược lại, một người sử dụng được kết nối mạng có thể thực hiện tính năng những chức năng công cộng như thường, như là những cuộc mua sắm trên mạng, tham gia thảo luận mở trên các diễn đàn online , hay đơn giản hóa những cuộc họp thông qua những cuộc hội thảo qua video, tất cả giới hạn trong không gian riêng tư của một phòng ngủ.

Bây giờ thậm chí một người có thể giao đấu trong một trò chơi trực tuyến nhập vai nhiều người chơi (MMORPG), như trò chơi 'Cuộc sống thứ hai - Second Life', thế giới trực tuyến ảo 3D, được xây dựng và sở hữu bởi 7,256,167 người sử dụng nó trên tòa cầu (tính tới ngày 20/6/2007) vii, những người mà chương trình này đề cập đến là các 'công dân' một cách hợp pháp.(Hình 5)

Ở đây có 2 loại hoạt động - những hoạt động không dựa vào không gian mà phụ thuộc vào thông tin và công nghệ truyền thông, và những hoạt động thể chất dựa vào không gian. Vào năm 1964, Melvin Webber đã mô tả 'khu vực đô thị không địa điểm" của thành phố trong tương lai, ở đó tính lưu động cá nhân dựa vào ô tô có thể biến các địa điểm vật lý thành phi vật chất và mọi người có thể chọn những nơi đẹp nhất, bất cứ nơi nào, để đáp ứng mọi hoạt động họ viii.

Sau đó Webber đã cảm thấy rằng sự phát triển của công nghệ truyền thông và giao thông cho phép nhiều hoạt động hiện tại đang phụ thuộc vào sự gần gũi về không gian được điều khiển thông qua các phương pháp phi không gian và điều này có thể thúc đẩy sự mở rộng của những khu vực dân định cư.

Tuy nhiên vào năm 1996, ông đã quan sát thấy những trung tâm đô thị vẫn thịnh vượng và nhiều hoạt động tiếp tục căn cứ vào không gian, bởi vì sự đáng tin cậy và tiện lợi của thông tin nhận được trực tiếp và sự thu hút thêm vào của việc bắt gặp cơ hội ix. Nhưng những sự phát triển này trong công nghệ truyền thông và giao thông chắc chắn đã cải thiện tốc độ và sự kết nối dễ dàng qua không gian mở rộng, và bởi thế tăng mức độ tương tác và giao dịch giữa những địa điểm xa nhau.

Ngày nay, những thiết bị truyền thông cá nhân và khả năng thay đổi liên tục những chức năng không phụ thuộc vào không gian (phi không gian) trong một không gian ảo đã gây ra cuộc tranh luận về việc làm thế nào điều này làm thay đổi mối quan hệ truyền thống giữa không gian dân dụng, công cộng và riêng tư.

Chúng tôi hỏi các nhà thiết kế nên phản ứng thế nào khi ranh giới giữa những định nghĩa về không gian bị lu mờ và phân vân liệu rằng các kiến trúc sư có nên cố gắng củng cố những nét đặc trưng mang tính truyền thống, giữ gìn trật tự không gian rõ ràng để đem lại sự an toàn, thoải mái và thuận tiện cho những người sử dụng, người mà đã thay đổi các yêu cầu cho cả cuộc sống riêng tư và công cộng của mình. Nhưng thực tế bị lờ đi trong câu hỏi này là chính những hoạt động phi không gian mới này diễn ra trong không gian--ở những nơi làm việc có những đặc điểm khác thường và đòi hỏi khắt khe.

Đó là các phòng giao dịch tài chính, các công ty có nền tảng công nghệ thông tin như là Google, hay các trường học trực tuyến mà những lớp học công cộng của nó được phân tán cho những không gian riêng tư của người sử dụng đơn lẻ. Ở đó, hiệu quả và chất lượng của các hoạt động phụ thuộc vào sự kết nối của truyền thông và khả năng thích ứng của không gian. Trong việc thiết kế chúng, chúng ta cần phê bình trật tự không gian cứng nhắc và sự phân phối thông thường của các chức năng, và khám phá những bố trí không gian linh hoạt hơn và mạng lưới hơn. Những nơi như vậy, được lợi từ sự đống bộ và tương tác thời gian thực vượt qua khoảng cách, được Castells miêu tả là "không gian của dòng chảy" x

Khi mạng lưới toàn cầu mở rộng vùng phủ sóng và đa dạng hóa các ứng dụng, thêm không gian của các chương trình được lợi từ cơ sở hạ tầng không gian linh hoạt chắc chắn sẽ được tạo dựng. Kevin Lynch, trong bài báo năm 1958 "Khả năng thích ứng với môi trường," đã mô tả một hệ thống truyền thông được phân phối tốt như một cách tạo ra sự linh hoạt về không gian, đã tranh luận rằng, "nếu sự kết hợp nội bộ tốt, thì các nguồn lực có thể nhanh chóng được huy động và thay đổi để đáp ứng những trường hợp khẩn cấp." xi

Lynch muốn nói sự kết nối không gian như hành lang, nhưng ý tưởng này có thể được mở rộng về khái niệm thông tin và kết nối truyền thông của lĩnh vực ảo, như là thư điện tử và các hội thảo qua video. Với thời đại thông tin, sự kết nối phi không gian phải đáng tin và tiện lợi, và không gian làm việc phải linh hoạt và có điểm chung để trang bị những chương trình khác nhau và các mức độ riêng tư tương ứng như các hoạt động dựa trên nề tảng phi không gian thay đổi liên tục trong cùng một không gian thực.

Quan điểm về sự linh hoạt này (một chủ đề quan trọng có tính lịch sử trong bài thuyết trình về kiến trúc và quy hoạch) đặc biệt có liên quan đến xã hội đương đại nơi những mô hình xã hội, văn hóa, và kinh tế chuyển đổi nhanh chóng và liên tục, thúc đẩy khả năng thích ứng xảy ra đúng lúc của môi trường vật chất.

image
Hình 3 - ‘YouTube.com’ là phát minh của năm của Tạp chí Times 2006

image
Hình 4 - Quảng cáo iPod và những người sử dụng nó ở Trung Quốc

image
Hình 5 - Một cảnh thu được từ trò chơi ‘Second Life’

Ngoài ra, ngày nay mật độ dân số tăng nhanh ở các khu vực đô thị trên khắp thế giới -- liệu có phải được thúc đẩy bởi sự phát triển của Hậu đô thị (post-urban) , tái định cư trở lại với những thành phố đã phát triển hoàn thiện như New York và Pittsburgh, hay "cuộc tìm vàng" đến những thành phố đang phát triển như Thượng Hải và Mumbai -- đã làm cho giá trị của bất động sản đô thị tăng lên, bằng cách đó tạo ra nhu cầu kinh tế nhằm đánh giá lại tầm quan trọng của sự linh hoạt trong kiến trúc, và khám phá những sự sắp đặt không gian có thể cung cấp thêm những chức năng hơn những bố trí thông thường trong cùng không gian được phân bố.

Năm 2001, Nhóm Đánh giá tổng hợp quốc gia công bố rằng tổng số dân thành thị Mỹ bây giờ là 79%, tăng lên đáng kể từ 40% vào năm 1900. xii (Hình 6 và 7) Và số dân thành thị của thế giới lần đầu tiên vượt qua số dân nông thôn vào ngày 23/5/2007. xiii Sự chuyển đổi này đang gia tăng về tốc độ ở mọi nơi nhưng nó nhanh hơn và có phạm vi rộng hơn ở những nước đang phát triển -- trong 40 năm trở lại đây, số dân thành thị của Hàn Quốc đã tăng lên từ 20% lên đến 80% tổng số dân cả nước. xiv

image
Hình 6 - Biểu đồ dân số nông thôn và thành thị từ Sự thay đổi khí hậu ảnh hưởng đến nước Mỹ: Kết quả tiềm ẩn của sự đa dạng và thay đổi khí hậu, xuất bản năm 2001

image
Hình 7 - Biểu đồ dân số ngoại thành ở Mỹ từ Thế kỷ đầu tiên được cân nhắc: Một chỉ dẫn minh họa cho những xu hướng ở Mỹ, 1900-2000, xuất bản năm 2000

image
Hình 8 - Dân số Mỹ và xu hướng tăng trưởng từ Sự thay đổi khí hậu ảnh hưởng đến nước Mỹ: Kết quả tiềm ẩn của sự đa dạng và thay đổi khí hậu, xuất bản năm 2001

Định nghĩa lại chức năng

Trong chương có tựa đề "Kiến trúc là những mô hình và hệ thống" trong Kiến trúc là những ký hiệu và hệ thống, Scott Brown đã sử dụng vai trò của bà vừa là một nhà quy hoạch đô thị vừa là kiến trúc sư để làm phong phú việc thực hành và những học thuyết của mình, coi mô hình xã hội, như là sự phát triển của công nghệ thông tin và làm tăng giá trị của đất trên mỗi sự biến động dân số, như những mô hình chồng lớp lên nhau để thông báo chung về nghiên cứu đô thị, đô thị và quy hoạch khu trường đại học, cũng như là thiết kế tòa nhà.

Học tập từ những nơi khác nhau - Nam Phi, Anh và Mỹ - Scott Brown khẳng định rằng khi xã hội trở nên đa văn hóa và phức tạp trong định nghĩa về giá trị và chức năng của nó, phương pháp chồng lớp thông tin trở thành phương tiện chủ yếu để đạt được một hiểu biết rõ ràng về cả tổng thể cấu trúc xã hội và những mô hình cá nhân của nó.

Tuy nhiên Scott Brown cảnh báo rằng những người sử dụng những hệ thống chồng lớp này có thể đối mặt với những mâu thuẫn giữa quy tắc của các lớp tương ứng, và có thể thấy nó không hiệu quả, nếu không nói là không thể, để đồng thời tuân theo tất cả những quy tắc của mọi hệ thống này. Bà nhấn mạnh rắng kiến trúc sư và nhà quy hoạch nên nhanh chóng xác định rõ những ưu tiên của mình và đề xuất chọn một cách tiếp cận của người theo trường phái Kiếu Sức ("mannerist")- bẻ cong các quy tắc đơn lẻ đê nhận được sự tối ưu chức năng cho tổng thể.

Venturi và Scott Brown định nghĩa Chủ nghĩa Kiểu sức như một sự phá vỡ luật lệ hiệu quả và có tri thức bởi những người hiểu rõ các luật lệ. Họ khuyến khích sự phá vỡ đó nên vì những lý do công năng và được giới hạn ở quy mô, bởi hầu hết các luật lệ đều có chức năng và "nếu tất cả chúng đều có ngoại lệ thì ngoại lệ sẽ không còn thú vị" Học tập từ những sự chuyển đổi hiện tại trong các mô hình xã hội và tốc độ luân chuyển nhanh chóng trong chức năng công trình theo thời gian, Scott Brown khuyên các kiến trúc sư nên thiết kế những công trình đáp ứng được một loạt các hoạt động hay chức năng khác ngoài những thứ được nhắc đến bởi những người sử dụng đầu.

Khi đưa ra một bản bố trí không gian thỏa mãn được điều này, Scott Brown sử dụng sự tương đồng của một chiếc bao tay với một chiếc găng tay hở ngón. Một chiếc vừa vặn với ngón tay của người sử dụng lúc đầu, nhưng găng tay hở ngón có thể được sử dụng bởi nhiều người khác nhau bởi vì có thêm 'phần cử động'.

Thay vì thiết kế một tòa nhà truyền thống phù hợp với một chức năng ban đầu, bà gợi ý cung cấp một thứ tương đương về mặt kiến trúc với 'phần cử động' trong những tòa nhà để lường trước được những yêu cầu của không gian trong tương lai, nhận thức là những tòa nhà gác xép công nghiệp không vách ngăn, chung trần cao hay Italian Palazzos là những ví dụ của không gian linh hoạt. (Hình 9)

image
Hình 9 - Găng tay với găng tay hở ngón và những ví dụ về các loại không gian với 'phần cử động' từ Kiến trúc là những ký hiệu và hệ thống

Sự linh hoạt chức năng trong kiến trúc

Khái niệm của sự linh hoạt chức năng đã là một chủ đề thường lặp lại trong kiến trúc. Vào năm 1958, Kelvin Lynch đã liệt kê một số phương tiện để thực hiện sự linh hoạt không gian. Việc này gồm có việc khoanh vùng và tập hợp cấu trúc tại một số điểm tách biệt xa nhau, để lại một khoảng thời gian lớn nơi những sự thay đổi trong tương lai sẽ không ảnh hưởng tới kết cấu tổng thể, việc sử dụng mô đun hay cấu trúc mắt cáo mà sự tăng trưởng ngoại vi không ảnh hưởng đến kết cấu trung tam; việc sử dụng các khu vực đệm cường độ thấp giữa các không gian cho phép công năng của chúng mở rộng và thu nhỏ lại mà không lấn át những lợi ích khác ; tránh sự thích nghi hạn hẹp của hình thức nhằm thỏa mãn các chức năng đặc biệt; cung ứng thừa không gian để cung cấp những chỗ rộng rãi cho sự mở rộng công năng tương lai, sử dụng những cấu trúc tạm thời, và một hệ thống mạng lưới thông tin tốt, để công năng và các thay đổi tác động lẫn nhau có thể được phân tích và điều tiết một cách hiệu quả.

Các kiến trúc sư đã giảng giải khái niệm vấn đề về sự linh hoạt theo nhiều cách. Một vài ví dụ là ngôi nhà Schroder của Gerrit Rietveld, 'Không gian vạn năng' của Mies van der Rohe, 'Không gian chức năng & không gian phụ trợ' của Louis Kahn, 'Không gian làm việc thông minh' của trường đại học Carnegie Mellon, và "Khu vực bị xóa nhòa.'

Phía trong phòng khách của De Stijl- ngôi nhà Schroder năm 2004 của kiến trúc sư Gerrit Rietveld là một khu vực mở có thể thay đổi, có thể chia nhỏ ra bằng những vách ngăn trượt hay xoay. Ý tưởng về những vách ngăn có thể chuyển động được được lấy cảm hứng từ những bức màn trượt Shoji hay những cánh cửa ra vào truyền thống của kiến trúc Nhật Bản, là một ý tưởng được sử dụng bởi cả các kiến trúc sư hiện đại tiền kỳ và đương đại để đạt được sự linh hoạt. Phương pháp này trở nên đặc biệt phổ biến ở kỷ nguyên công nghiệp như những tiến bộ trong công nghệ thiết kế tối thiểu hóa nhu cầu về cấu kiện trong xây dựng nội thất và tính đến những khoảng không gian mở rộng lớn hơn. (Hình 10)

image
Hình 10 - Ngôi nhà Schroder ở Utrecht, Netherlands, của Gerrit Rietveld, và Ngôi nhà Yoshijima ở Takayama, Nhật Bản

Vào những năm 1940, Mies van der Rohe đã nghiên cứu sự linh hoạt thông qua ý tưởng về 'Không gian vạn năng', một không gian nội thất 'phổ biến hóa', với ánh sáng tự nhiên và nhân tạo được phân bố đều và các thành phần kết cấu tối thiểu, như được minh họa trong thiết kế của ông ở Học viện công nghệ Illinois. (Hình 11) Ông cũng đề xuất tổ chức lại những vách ngăn có thể di chuyển theo không gian, để trang bị cho những chương trình khác nhau của học viện. (Bức phác thảo 1)

image
Hình 11 - Học viện công nghệ Illinois ở Illinois, Chicago, của Mies van der Rohe

image
Bức phác thảo 1 - Những hình minh họa bằng biểu đồ của 'Không gian vạn năng'

'Không gian chức năng & không gian phụ trợ' của Louis Kahn vào những năm 1960 được xây dựng trên 'Không gian vạn năng' của Mies nhưng thừa nhận chức năng phụ mặt sau ngôi nhà như một bộ phận hợp nhất nhưng độc lập trong tổng thể. Trong thiết kế của ông của Tòa nhà thí nghiệm nghiên cứu Y học Richards, Kahn đặt những trục giao thông và đa năng ('Không gian phụ trợ'), tới những thực thể được kết nối theo chiều đứng và khéo léo ở ngoại thất của các phòng thí nghiệm ('Không gian chức năng'), bằng cách đó đem lại sự linh hoạt cho các bố trí không gian nhằm giảm thiểu gián đoạn. (Hình 12 và bức phác thảo 2)

Venturi and Scott Brown mở rộng ý tưởng của Kahn bằng cách đưa vào sự mở rộng không gian công cộng thành nội thất tòa nhà.xviii Vẽ từ từ bản đồ không gian đô thị dân dụng, công cộng và riêng tư của Giambattista Nolli và định nghĩa đa lớp của David Crane trong "Bốn mặt của sự chuyển động," xix

Scott Brown phân tích không gian đô thị công cộng là một sự liên tục phức tạp đi từ trong ra ngoài. Đường phố chuyển vào trong và qua tòa nhà đem đến liên kết cho ngoại thất đến nội thất cũng như không gian cho lối vào, những hoạt động, và những dòng thông tin. Không chỉ đơn thuần là 'dành cho nhân viên', nó còn bổ sung thêm thành phần dân dụng vào 'Không gian phục vụ và nhân viên', bằng cách thay đổi vai trò của cả hai, đồng thời đưa nền tảng thông thường của đường phố trở thành vị trí nổi bật của kiến trúc.

image
Hình 12 - Tòa nhà thí nghiệm nghiên cứu Y học Richards ở Philadelphia, Pennsylvania, của Louis Kahn

image
Bức phác thảo 2 - Những minh họa bằng biểu đồ của 'Không gian phục vụ và nhân viên' trong Tòa nhà thí nghiệm nghiên cứu Y học Richards

Trên mái của tòa nhà Margaret Morrison ở trường đại học Carnegie Mellon trong Pittsburgh là một không gian văn phòng khoa gọi là "Không gian làm việc thông minh", được hoàn thành vào năm 1997 qua sự cộng tác của một nhóm giáo sư trong lĩnh vực những hệ thống công trình cao cấp và kiến trúc bền vững.

Bên cạnh khả năng thích nghi về công nghệ và bền vững với môi trường, không gian này nhằm mục tiêu đạt được 'sự linh hoạt có tổ chức' bằng cách cung cấp cho những người sử dụng nó những vách ngăn có thể di chuyển được và những đơn vị nội thất, cho phép chúng cấu hình lại không gian và bằng cách sắp xếp các biến đổi trong tương lai theo các công năng. (Hình 13)

image
Hình 13 - 'Không gian làm việc thông minh' ở Carnegie Mellon

Những ví dụ như vậy về kiến trúc 'linh hoạt' phụ thuộc vào những vách ngăn có thể di chuyển được hay đồ nội thất trong những không gian mở quá đơn giản. Tuy nhiên sự linh hoạt được đưa ra thường không rõ ràng. Không chỉ những vách ngăn hiếm khi được di chuyển trừ khi bắt đầu và kết thúc việc cư trú, nhưng sự mơ hồ của các chức năng mà chúng tạo nên khiến chúng ta xem xét mong muốn về loại không gian này.

Sự linh hoạt không gian thường chỉ được hạ xuống thành sự bố trí lại nội thất đặc biệt trong một khu vực không xác định. Mặc dù giảm thiểu các bộ phận công trình và máy móc trong những ví dụ ở trên tạo ra không gian mở không bị gián đoạn bước đầu hứa hẹn sự linh hoạt, một số bộ phận có thể di chuyển được trong thực tế lại không thuận tiện để di chuyển (trong 'Không gian làm việc thông minh', những giá sách có bánh xe quá nặng để lăn cùng với sách ở đó, trong khi những bức tường có thể di chuyển được và những chiếc ghế cần tất cả đường nối điện và máy móc không rút phíc cám ra và đổi đường để có thể di chuyển) và những thứ khác, có thể vì họ thiếu những chương trình cụ thể, chỉ xác định sự phân loại quá đơn giản trong một không gian mở nhiều như đã làm trong phòng khách của Ngôi nhà Shroder.

Vì thế mức độ linh hoạt được cung cấp quá đắt cho mục đích sử dụng hữu hạn và hiếm hoi. Vào những năm 1980 và 1990, Peter Eisenman đã thí nghiệm với hình thức kiến trúc linh hoạt khác. Phù hợp với ý tưởng của Jacques Derrida về một 'cấu tạo tùy ý', Eisenman đã đề ra một 'khu vực bị làm nhòe' qua việc đổi chỗ ngẫu nhiên những đề mục kiến trúc thông thường về chức năng, địa điểm, công năng và kiến tạo học, sau cùng tạo ra một không gian chưa hoàn thiện được nhưng trong tình trạng liên tục thay đổi, và do đó linh hoạt một cách trừu tượng. (Hình 14 và Bức phác thảo 3)

Tuy nhiên, trong thực tế, việc khởi đầu của một 'cấu tạo tùy ý' và các thành phần kiến trúc hỗ độn một cách có chủ ý và sự trừu tượng điêu khắc được tạo ra chỉ sản xuất ra một hình ảnh đóng băng sự lặp lại không gian/ công năng, hơn là khởi đầu sự linh hoạt hữu dụng đích thực.

Thiết kế của Frank O. Gehry của trung tâm Stata ở Học viện Công nghệ Massachusetts, trong khi tách cảm giác về sự linh hoạt thông qua các hình thức giao nhau của nó, trong thực tế là một sự định vị tĩnh các công năng trong một không gian cố định. (Hình 15) Tuy nhiên, hàng loạt kiểu không gian trong bản quy hoạch có thể, nếu sự lưu thông đáp ứng tốt cho chúng, tính đến sự linh hoạt đa dạng. Nó giống như tòa nhà Furness ở trường đại học Pennsylvania đã qua hàng trăm năm sau khi được xây dựng, cho phép hướng dẫn của hệ thóng máy tính thư viện bằng các sự đa dạng không gian của nó.

image
Hình 14 - Mô hình 3D cho thành phố văn hóa Galicia ở Tây Ban Nha, của Peter Eisenman, dự tính sẽ được hoàn thành vào năm 2011, và nền kiến trúc phi cấu trúc, Bảo tàng Đan Mạch Jewish ở Copenhagen, Đan Mạch, của Daniel Libeskind, được xây dựng năm 2004

image
Bức phác thảo 3 - Những minh họa bằng biểu đồ phi kiến trúc 'Khu vực bị xóa nhòa'

image
Hình 15 - Hình ảnh và bản quy hoạch phòng giao dịch của Trung tâm Stata ở học viện công nghệ Massachusetts, ở Boston, Massachusetts, của Frank O. Gehry, đã hoàn thành năm 2004

Venturi, Robert, Denise Scott Brown và Steven Izenour, Học tập từ Las Vegas (Cambridge, MA: Nhà xuất bản MIT, 1972; chỉnh sửa tái bản năm 1977), trang 87.
Venturi, Robert và Denise Scott Brown, Kiến trúc là những ký hiệu và hệ thống: Dành cho thời kỳ Kiểu sức (Cambridge, MA: Nhà xuất bản The Belknap của nhà xuất bản trường Đại học Harvard, 2004).
Scott Brown, Denise, "Bối cảnh trong bối cảnh," Kiến trúc là những ký hiệu và hệ thống: Dành cho thời kỳ kiểu cách, trang 175-181.
Stalder, Felix, Mô hình mạng lưới: Những biến chuyển xã hội trong kỷ nguyên thông tin, (1998).
Castells, Manuel, Sự tiến lên của mạng lưới xã hội, kỷ nguyên Thông tin: Kinh tế, Xã hội và Văn hóa, tập I (Cambridge, MA: Oxford, UK: Blackwell, 1996), trang 5.
Grossman, Lev, Mạng lưới con người," Time (Tháng 11, 2006), trang 61-65.
Linden Lab, Cuộc sống thứ 2 là gì?, (2003).
Webber, Melvin M. et al., "Khu vực đô thị và ngoài đô thị," Khám phá cấu trúc đô thị, (Philadelphia, PA: Nhà xuất bản trường Đại học Pennsylvania, 1964), trang 108-132.
Webber, Melvin M., "Những thành phố kiên cường," Các ghi chép hội thảo nghiên cứu: Công nghệ không gian, thông tin địa lý và thành phố, Baltimore (Tháng 9, 1996)
Castells, Manuel, Thành phố thông tin (Oxford, UK: Blackwell, 1989).
Lynch, Kevin, "Khả năng thích ứng với môi trường," Tạp chí của Việc Kế hoạch Mĩ 24, số 1 (1958), trang 16-24.
Nhóm Đánh giá tổng hợp quốc gia, Chương trình nghiên cứu thay đổi toàn cầu Mĩ, Thay đổi thời tiết ảnh hưởng đến nước Mĩ: , Sự thay đổi khí hậu ảnh hưởng đến nước Mỹ: Kết quả tiềm ẩn của sự đa dạng và thay đổi khí hậu, (2001).
Dr. Wimberley, Ron, Tín hiệu cấp cứu 23: Dân số thế giới đang trở nên thành thị hơn nông thôn, (2007).
Kwon, Tai-Hwan , Sự thay đổi và phát triển dân số ở Hàn Quốc, (2001)
Scott Brown, Denise, "Thói kiểu cách vì bạn không thể lúc nào cũng theo tất cả quy luật của mọi hệ thống," Kiến trúc là những ký hiệu và hệ thống: Dành cho thời kỳ kiểu cách, trang 212.
Scott Brown, Denise, "Kiến trúc là những hệ ký hiệu và hệ thống: Dành cho thời kỳ kiểu cách", trang 153-154
Lynch, Kevin, "Khả năng thích nghi với môi trường,"Tạp chí của Viện Kế hoạch Mĩ 24, no. 1 (1958), trang 16-24
Scott Brown, Denise, "Định nghĩa lại thuyết chức năng," Kiến trúc là những ký hiệu và hệ thống: Dành cho thời kỳ kiểu cách, trang 158-161. và Harteveld, Maurice và Denise Scott Brown, "Trong không gian nội thất công cộng," Tài liệu AA 56 (Tháng 11, 2007), trang 64-73.
Cần trục nhận ra đường phố là lối vào được cung cấp, áp lực cho những toà nhà thành phố, không gian sống và cơ hội cho truyền thông. Xem Scott Brown, Denise "Bản thiết kế đô thị ở 50, và cái nhìn về phía trước,"Tạp chí thiết kế Harvard (Xuân hạ, 2006,) trang 33-44. Eisenman, Peter, "Những khu vực bị xóa nhòa", Được viết vào khoảng trống: Những bài viết chọn lọc, 1990-2004 (New Haven: Nhà xuất bản trường Đại học Yale, 2007) trang 111-112. Venturi, Robert, Denise Scott Brown and Steven Izenour, Learning from Las Vegas (Cambridge, MA: MIT Press, 1972; revised edition 1977), p. 87. Venturi, Robert and Denise Scott Brown, Architecture as Signs and Systems: For a Mannerist Time (Cambridge, MA: The Belknap Press of Harvard University Press, 2004). Scott Brown, Denise, "Context in Context," Architecture as Signs and Systems: For a Mannerist Time, pp. 175-181. Stalder, Felix, The Network Paradigm: Social formations in the Age of Information, (1998). Castells, Manuel, The Rise of the Network Society, the Information Age: Economy, society and Culture, Vol. I (Cambridge, MA: Oxford, UK: Blackwell, 1996), p. 5. Grossman, Lev, "The People’s Network," Time (November, 2006), pp. 61-65. Linden Lab, What is Second Life?, (2003). Webber, Melvin M. et al., "Urban Place and Nonplace Urban realm," Explorations into Urban Structure, (Philadelphia, PA: University of Pennsylvania Press, 1964), pp. 108-132. Webber, Melvin M., "Tenacious Cities," Conference Research Notes: spatial technologies, geographical information and the city, Baltimore (September, 1996) Castells, Manuel, The Informational City (Oxford, UK: Blackwell, 1989). Lynch, Kevin, "Environmental Adaptability," Journal of the American Institute of Planners 24, no. 1 (1958), pp. 16-24. The Nation Assessment Synthesis Team, US Global Change Research Program, Climate Change Impacts on the United States: The Potential Consequences of Climate Variability and Change, (2001). Dr. Wimberley, Ron, Mayday 23: World Population Becomes More Urban Than Rural, (2007). Kwon, Tai-Hwan , Population Change and Development in Korea, (2001) Scott Brown, Denise, "Mannerism Because You Cant Follow All the Rules of All the Systems All the Time," Architecture as Signs and Systems: For a Mannerist Time, p. 212. Scott Brown, Denise, "The Redefinition of Functionalism," Architecture as Signs and Systems: For a Mannerist Time, pp. 153-154. Lynch, Kevin, "Environmental Adaptability," Journal of the American Institute of Planners 24, no. 1 (1958), pp. 16-24. Scott Brown, Denise, "The Redefinition of Functionalism," Architecture as Signs and Systems: For a Mannerist Time, pp. 158-161. and Harteveld, Maurice and Denise Scott Brown, "On Public Interior Space," AA Files 56 (November 2007), pp. 64-73. Crane saw the street as providing access, pressure for city buildings, space for living and opportunities for communication. See Scott Brown, Denise, "Urban Design at Fifty, and a Look Ahead," Harvard Design Magazine (Spring Summer, 2006,) pp. 33-44. Eisenman, Peter, "Blurred Zones", Written into the Void: Selected Writings, 1990-2004 (New Haven: Yale University Press, 2007), pp. 111-112.
Nguồn: dịch từ Archinect

Xem tiếp phần 02


© Hội Kiến trúc sư Việt Nam (VAA) - Thành viên Liên hiệp Hội KTS Quốc tế (UIA),
Hội đồng KTS Châu Á (ARCASIA) và Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam
Trụ sở: 23 Đinh Tiên Hoàng, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội